Thực trạng mắc bệnh da và bệnh phong tại 4 xã thuộc 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát, tỉnh Bình Định

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng bệnh da và bệnh phong tại 4 xã thuộc 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát, tỉnh Bình Định. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh da chiếm 7,7% số người dân được khám, trong đó bệnh da dị ứng chiếm tỷ lệ cao nhất (28,1%), viêm da cơ địa 22,4%, viêm da mủ 17,3% và các bệnh nấm da có tỷ lệ 13,3% và sẩn ngứa, bệnh da do côn trùng ký sinh trùng là 11,5%. Phát hiện được 2 bệnh nhân phong tàn tật độ 0, thuộc nhóm PB (tỷ lệ phát hiện 4,53/100.000 dân). Kết luận: tỷ lệ mắc bệnh da là 7,7%, trong đó các bệnh da thường gặp là bệnh da dị ứng, viêm da cơ địa, bệnh nấm da và bệnh da do ký sinh trùng và côn trùng. Phát hiện được 2 bệnh nhân phong tàn tật độ 0 (tỷ lệ phát hiện 4,53/100.000 dân).

Xem chi tiết

Bệnh da và bệnh phong tại 4 xã huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng bệnh da và bệnh phong tại 4 xã huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa năm 2004. Kết quả cho thấy bệnh da chiếm tỷ lệ 8,0% trên số người dân được khám, trong đó bệnh viêm da cơ địa chiếm tỷ lệ cao nhất (32,3%), bệnh da dị ứng 17,6%, các bệnh da nhiễm khuẩn 14,8%. Bệnh nấm da khá cao 13,0%, bệnh sẩn ngứa và do ký sinh trùng và côn trùng là 12,9%. Phát hiện được 1 bệnh nhân phong tàn tật độ 0, thuộc thể T nhóm PB (tỷ lệ phát hiện « 6,4/100000 dân). Từ đó kết luận: tỷ lệ mắc bệnh da là 8,0%, trong đó các bệnh da thường gặp là bệnh da dị ứng, viêm da cơ địa, bệnh nấm da và bệnh da do ký sinh trùng và côn trùng. Phát hiện được 1 bệnh nhân phong tàn tật độ 0 (tỷ lệ phát hiện » 6,4/100000 dân).

Xem chi tiết

Nghiên cứu vi giải phẫu vạt cân-da Delta, vạt xương-cân-da cánh tay ngoài và vạt cân-da gian cốt sau

Cấp đề tài: 06

Năm: 2008

Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Văn Huy

Đồng tác giả: ThS. Nguyễn Đức Nghĩa, TS. Ngô Xuân Khoa, BS. Chu Văn Tuệ Tĩnh, BS. Trần Quốc Hoà

Xếp loại: da

Đào tạo: 1 ThS, 1 BSĐã đăng: 3 bài báoSẽ công bố : 1 bài báoBáo cáo Hội nghị quốc gia : 2

Xem chi tiết

Nghiên cứu tình hình, đặc điểm bệnh viêm da tiếp xúc tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Hữu Sáu

Khảo sát tình hình, đặc điểm bệnh viêm da tiếp xúc tại bệnh viện Da liễu Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang dựa trên các dữ liệu của 27835 bệnh nhân bị viêm da tiếp xúc (VDTX) đến khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 1/2007 đến hết 12/2009. Kết quả: Trong thời gian 3 năm đã có 27835 bệnh nhân bị VDTX, chiếm 5,6% tổng số bệnh nhân mắc bệnh da, trong đó 66% bệnh nhân bị VDTX dị ứng, 34% bệnh nhân bị VDTX kích ứng. Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam (63,7% nữ và 36,3% nam). Số bệnh nhân từ 16 - 60 tuổi chiếm 85,4%. Trong đó, 37,2 % bệnh nhân là nội trợ, 27,4% bệnh nhân là học sinh – sinh viên. Có 4,3% bệnh nhân dị ứng với kim loại, 1,5% dị ứng mỹ phẩm, 1,4% do hóa chất và 1,4% dị ứng với thuốc bôi ngoài da và 90,5% bệnh nhân bị VDTX dị ứng không rõ căn nguyên. Đối với VDTX kích ứng: 50,3% các trường hợp do côn trùng (kiến khoang), 48% trường hợp không xác định được nguyên nhân. Kết luận: Viêm da tiếp xúc là bệnh da thường gặp, chiếm 5,6 % số bệnh nhân da đến khám tại bệnh viện Da liễu Trung ương. Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam và chủ yếu ở nhóm tuổi từ 16 đến 60. Những người làm nội trợ và học sinh - sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất. Hầu hết các trường hợp VDTX không rõ căn nguyên.

Xem chi tiết

Sử dụng vạt da - cân thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng che phủ tổn thương mất da vùng gót chân.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Đỗ Thành Phương, Nguyễn Tam Thăng

Năm 1992 tác giả Masquelet đã đưa ra “ Vạt da thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng” đã được sử dụng rộng rãi cho đến nay. Tại khoa ngoại chấn thương bệnh viện Quảng Nam chúng tôi đã sử dụng vạt da này với một số cải biến có hiệu quả đựơc thực hiện từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 10 năm 2008. Mục tiêu: đánh giá kết quả và khả năng áp dụng vạt da- cân thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng để che phủ tổn thương vùng gót bàn chân. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu từ tháng 1/2006 đến tháng 10/2008, 16 bệnh nhân bị tổn thương mất da vùng gót bàn chân được điều trị phẫu thuật che phủ tổn thương bằng vạt da – cân thần kinh hiển ngoài, thời gian theo dõi 06 tháng. Kết quả: tỷ lệ sống vạt cao (100%), hoại tử một phần 4 trường hợp.Kích thước vạt lớn nhất ( 8 x 14cm), nhỏ nhất (6 x 8cm), chiều dài vạt trung bình 20cm (dài nhất 24cm). Che phủ hết tổn thương mất da vùng gót bàn chân 12 trường hợp. Nhiễm trùng sau mổ 4 trường hợp. Kết luận: sử dụng vạt da thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng che phủ những tổn thương mất da vùng gót bàn chân là phương pháp điều trị có nhiều ưu điểm, hiệu quả, ít tốn kém và quan trọng là có thể áp dụng tại cơ sở chúng tôi.

Xem chi tiết

Hình ảnh nội soi của nếp van dạ dày - thực quản ở bệnh nhân có hội chứng trào ngược dạ 16 dày - thực quản

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Đào Việt Hằng, Nguyễn Thị Vân Hồng, Đào Văn Long

Trào ngược dạ dày - thực quàn (TNDD - TQ) là một bệnh lý phổ biến, tuy nhiên, tiêu chuẩn vàng để chần đoán hiện chưa có. Bất thường giải phẫu của nếp van dạ dày - thực quản đã được chứng minh có liên quan tới bệnh lý TNDD - TQ. Mục tiêu nghiên cứu nhằm phân loại nếp van dạ dày - thực quản theo Hill ở những bệnh nhân có bệnh lý TNDD - TQ và tìm hiểu mối liên quan giữa phân độ nếp van dạ dày - thực quản và tổn thương thực quản trên nôi soi theo phân loại Los Angeles. Kết quả nghiên cứu cho thấy: gần 37% bệnh nhân có bất thường về nếp van dạ dày - thực quản. 45% bệnh nhân có tổn thương thực quản trên nội soi có bất thường về nếp van. Nếp van dạ dày - thực quản có mối liên quan với tổn thương thực quản trên nội soi (Chi-square 7,778, p < 0,05, r = 0,576). Độ phù hợp giữa phân độ nếp van dạ dày - thực quản và tổn thương thực quản trên nội soi thấp. Phân loại nếp van dạ dày - thực quản trên nội soi cung cấp những thông tin hữu ích về tình trạng trào ngược dạ dày - thực quản và có quan hệ chặt chẽ với bệnh lý TNDD - TQ, đặc biệt là tình trạng tổn thương niêm mạc thực quản trên nội soi.

Xem chi tiết

Nghiên cứu phân bố các loại ung thư da tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương giai đoạn 2007 - 2010

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Vũ Thái Hà, Nguyễn Hữu Sáu, Lê Đức Minh

Khảo sát tình hình ung thư da bệnh viện Da liễu Trung ương (BVDLTW). Đối tượng và phương pháp: Phương pháp mô tả cắt ngang dựa trên dữ liệu của 856 bệnh nhân ung thư da đến khám và điều trị tại BVDLTW. Kết quả: Trong thời gian 4 năm từ 1/2007 đến 12/2010 đã có 856 bệnh nhân được chẩn đoán là ung thư da, trong đó 58,8% là ung thư tế bào đáy, 32,2% ung thư tế bào vảy , 4,8% ung thư hắc tố cũng và 4,2% là các ung thư da khác. Số bệnh nhân ung thư da năm 2010 gấp hơn 2,6 lần so với số bệnh nhân năm 2007. Tỷ lệ nam/nữ là 1,2. Có 64,25% bệnh nhân trên 60 tuổi và 61% bệnh nhân sống ở nông thôn. Kết luận: Số lượng bệnh nhân ung thư da đến khám và điều trị tại bệnh viện Da liễu Trung ương ngày càng tăng. Ung thư tế bào đáy gặp nhiều nhất trong các loại ung thư da. Gần 2/3 số bệnh nhân trên 60 tuổi. Bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ và phần lớn bệnh nhân sống ở nông thôn.

Xem chi tiết

Vai trò của ivabradine trong phối hợp điều trị bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp đã can thiệp động mạch vành qua da

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Số 1

Tác giả: Nguyễn Mạnh Quân, Nguyễn Quang Tuấn, Phạm Thị Tuyết Nga

Vai trò của Ivabradine đã được chứng minh trên đối tượng bệnh động mạch vành (ĐMV) ổn định, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp đã can thiệp ĐMV qua da. Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu hiệu quả và những tác dụng không mong muốn của Ivabradine trong phối hợp điều trị bệnh nhân NMCT cấp đã can thiệp ĐMV qua da. Kết quả cho thấy phối hợp Ivabradine làm giảm tần số tim sau 1 tuần, cải thiện tình trạng đau ngực, mức độ khó thở sau 1 tháng (p < 0,01), làm giảm nguy cơ biến cố tim mạch chính, tái nhập viện do suy tim sau 12 tuần so với nhóm điều trị theo quy chuẩn. Ivabradine dung nạp tốt và an toàn. Kết luận: phối hợp Ivabradine làm cải thiện chất lượng cuộc sống và tiên lượng ở bệnh nhân NMCT cấp đã can thiệp ĐMV qua da.

Xem chi tiết