Nghiên cứu tác dụng của egcg chè xanh (camellia sinensis) trên dòng tế bào ung th¬ư vú nuôi cấy

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Bùi Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hà ,Tạ Thành Văn

Nhiều nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy Epigallocatechin - 3 - gallate (EGCG) của chè xanh có khả năng ngăn ngừa, hạn chế quá trình phát triển của các bệnh lý liên quan đến hoạt động của gốc tự do. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng ức chế sự phát triển tế bào và tác dụng gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis) của EGCG chè xanh trên dòng tế bào ung thư vú người MCF7. Đối tượng và phương pháp: Sử dụng dòng tế bào ung thư vú MCF7 để khảo sát tác dụng của EGCG in vitro, thông qua các chỉ số: giá trị IC50, tỷ lệ tế bào sống, DNA ladder và hoạt độ caspase - 3. Kết quả: EGCG chè xanh có khả năng ức chế sự phát triển dòng tế bào ung thư vú MCF7 (92,2 - 25,1%), tác dụng này phụ thuộc vào liều (12,5 - 200mM) và thời gian tác dụng (48 - 72h). Giá trị ức chế 50% (IC50¬) = 43,13µM. EGCG chè xanh gây quá trình apoptosis trên dòng tế bào ung thư vú MCF7 thể hiện qua sự đứt gãy DNA, sự đứt gãy DNA, sự hoạt hoá enzym caspase - 3 và nồng độ EGCG chè xanh 12,5µM50µM gây apoptosis với hiệu lực cao nhất.

Xem chi tiết

Bài giảng hệ Nội – GS Nguyễn Huy Dung (tập 1: Nội cơ sở)

Chủ biên: GS. Nguyễn Huy Dung

Nhà xuất bản: Lưu Hành Nội Bộ

Năm xuất bản: 2007

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn bộ giáo trình, bài giảng hệ nội khoa do GS Nguyễn Huy Dung chủ biên cùng các bác sĩ khác gồm có 3 phần: Triệu chứng học, Bệnh học nội khoa, Điều trị học nội khoa.
Sau đây là mục lục phần nội cơ sở:
I. ĐẠI CƯƠNG
1-Bài mở đầu nội khoa – GS. TS. BS Nguyễn Huy Dung.
2-Cách khám và làm bệnh án – ThS. BS. Hồ Phạm Thục Lan.
II. KHÁM BỘ MÁY HÔ HẤP
1-Triệu chứng cơ năng cơ quan hô hấp – ThS. BS. Trần văn Thi.
2-Khám lâm sàng cơ quan hô hấp – ThS. BS. Trần văn Thi.
3-Các hội chứng hô hấp – ThS. BS. Trần văn Thi.
4-Thăm dò chức năng hô hấp – ThS. BS. Trần văn Thi.
III. KHÁM TIM MẠCH
1-Các triệu chứng cơ năng – ThS. BS. Nguyễn Tuấn Vũ.
2-Khám tim – ThS. BS. Nguyễn Tuấn Vũ.
3-Các tiếng tim bình thường và bất thường – ThS. BS. Nguyễn Tuấn Vũ.
4-Các loại âm thổi – ThS. BS. Nguyễn Tuấn Vũ.
5-Sơ bộ về Đện tâm đồ bình thường – ThS. BS. Lương Quốc Việt.
5-Hội chứng van tim – ThS. BS. Lương Quốc Việt.
6-Hội chứng suy tim – ThS. BS. Lương Quốc Việt.
7-Bệnh màng ngoài tim – ThS. BS. Lương Quốc Việt.
8-Khám mạch máu ngoại biên – ThS. BS. Lương Quốc Việt.
9-Sơ bộ về bệnh mạch máu ngoại biên – ThS. BS. Lương Quốc Việt.

Xem chi tiết

Nồng độ 25(OH)D3 và peptide kháng khuẩn nội sinh ll - 37 trong huyết thanh phụ nữ có thai bị nhiễm khuẩn tiết niệu

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Đặng Thị Ngọc Dung, Vũ Thị Dương Liễu

Xác định nồng độ 25(OH)D3 và peptid LL-37 trong huyết thanh của phụ nữ có thai bị nhiễm khuẩn tiết niệu. Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ 25(OH)D3 và peptid LL-37 ở những phụ nữ nói trên. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bệnh-chứng với nhóm bệnh là 35 thai phụ bị NKTN đến khám tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội và nhóm chứng là 35 thai phụ khỏe mạnh. Kết quả cho thấy nồng độ LL-37 ở nhóm chứng là 46,87 ± 16,93 ng/ml cao hơn ở nhóm NKTN (33.7 ± 14.97 ng/mL) với p < 0,05. Nồng độ 25(OH)D3 huyết thanh ở nhóm chứng là 42,76 ± 21,75 ng/mL cao hơn ở nhóm NKTN (30,99 ± 9,2). Nồng độ LL-37 và 25(OH)D3 ở cả nhóm chứng và nhóm bệnh NKTN có mối tương quan khá chặt chẽ với r = 0,81 và r = 0,8. Kết luận, nồng độ LL-37 và 25(OH)D3 ở nhóm chứng cao hơn ở nhóm NKTN. Nồng độ LL-37 và 25(OH)D3 ở cả nhóm chứng và nhóm bệnh NKTN có mối tương quan thuận khá chặt chẽ.

Xem chi tiết

Sự phát triển âm đầu của âm tiết ở trẻ em bình thường tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 2

Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh và cộng sự

Khi đánh giá phát âm và ngôn ngữ của trẻ em nói tiếng Việt, chúng ta không có cơ sở bình thường nào để so sánh. Mục tiêu: (1) Nghiên cứu độ dài trung bình của phát ngôn ở mỗi độ tuổi. (2) Nghiên cứu quá trình hoàn thiện của các phụ âm đầu âm tiết của trẻ em tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội. Phương pháp: Mô tả cắt ngang: Ghi âm hội thoại tự do của trẻ với người thân và dùng bảng từ thử để kiểm tra. Tính độ dài trung bình của phát ngôn; âm được coi là hoàn chỉnh nếu tần suất tạo âm đúng đạt trên 85%. Kết quả: Độ dài phát ngôn tăng từ 1,36 (12 - 18th) lên 6,6 âm tiết (độ tuổi 60 - 72th). Thứ tự hoàn thiện là các âm “m, b, p, k, h... ” rồi tới các âm “ x, n, th, kh... “. Kết luận: Độ dài phát ngôn tỷ lệ thuận với độ tuổi. Các âm đầu có bộ vị phía trước, là âm tắc, âm hữu thanh được hoàn chỉnh sớm hơn so với âm phía sau, âm xát và âm vô thanh.

Xem chi tiết

Sự bộc lộ của P63 và CD10 với SMA trong ung thư biểu mô ống tại chỗ và xâm nhập của vú

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Bùi Thị Mỹ Hạnh

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy CD10 và p63 được bộc lộ trong các tế bào cơ biểu mô (CBM) của vú và có thể được sử dụng để phân biệt các ung thư biểu mô vú tại chỗ và xâm nhập. Mụ tiêu: khảo sát sự bộc lộ của SMA, CD10, p63 trong các ung thư biểu mô ống (UTBMO) tại chỗ và xâm nhập, đánh giá khả năng của CD10 và p63 so với SMA trong chẩn đoán phân biệt các UTBMO tại cho và xâm nhập của vú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các khối nến bệnh phẩm của 26 UTBMO tại chỗ và 35 UTBMO xâm nhập đã được nhuộm miễn dịch với SMA, CD10 và p63. Tính chất bộc lộ đa được đánh giá theo các mức 0 đến 3+.Tính chất phân bố của tế bào CBM theo hai mức: liên tục hoặ từng phần. Kết quả: Trong UTBMO tại chỗ, các tế bào CBM đã được phát hiện ở 23/26 (88%) cá trường hợp (TH) khi nhuộm SMA so với 18/26 (69%) nhuộm CD10 và 25/26 (96%) nhuộm p63; Nhuộm liên tục quanh các cấu trúc ống ở 10/26 (38%) các TH nhuộm SMA so với 1/26 (4%) nhuộm CD10 va không gặp khi nhuộm p63; Cường độ nhuộm mạnh 3+ gặp trong 9/23 (39%) các TH nhuộm dương tính với SMA, so với 3/18 (17%) và 5/25 (20%) các TH nhuộm dương tính với CD10 và p63. Ngược lại, UT BMO xâm nhập đã không phát hiện thấy các tế bào CBM khi nhuộm CD10. Các nguyên bào xơ và te bào cơ trơn thành mạch đều nhuộm SMA (100%), CD10 chỉ nhuộm các nguyên bào xơ (31/61;51%) p63 không nhuộm mô đệm. Kết luận: p63 là một dấu ấn có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn để pha hiện các tế bào CBM giúp phân biệt các UTBMO tại chỗ và xâm nhập.

Xem chi tiết

So sánh ảnh hưởng trên đông máu của dung dịch stabisol và dung dịch refortan ở bệnh nhân phẫu thuật chấn thương chỉnh hình chi dưới

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Vũ Hoàng Phương, Chu Mạnh Khoa, Nguyễn Hữu Tu

Mục tiêu: so sánh ảnh hưởng trên đông máu của dung dịch hetastarch (Stabisol 450/0,7) và dung dịch pentastarch (Refortan 200/0,5) ở bệnh nhân (BN) phẫu thuật chấn thương chỉnh hình chi dưới. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp, ngẫu nhiên mù đơn và có đối chứng. BN được chia thành 3 nhóm: Stabisol 450/0,7 (n = 30); Refortan 200/ 0,5 (n = 30) và nhóm chứng NaCl 9‰ (n = 30). Dung dịch nghiên cứu được truyền trong quá trình phẫu thuật với liều lượng 20ml/kg. Các chỉ số huyết động, lượng mất máu trong và sau mổ được theo dõi trong vòng 48h. Các xét nghiệm (XN) đông máu đánh giá ở 3 thời điểm: trước mổ, sau mổ và sau mổ 24h. Kết quả: lượng máu mất sau mổ ở 2 nhóm Stabisol và Refortan không có sự khác biệt. Yếu tố VIII ở nhóm Stabisol giảm nhiều hơn nhóm Refortan và kéo dài hơn (p < 0,05); vWA đều giảm ở nhóm Stabisol và nhóm Rerortan nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Kết luận: mức độ ảnh hưởng trên đông máu của dung dịch Stabisol ở liều 20ml/kg nhiều hơn và kéo dài hơn so với dung dịch Refortan nhưng chưa gây ra các rối loạn đông máu trên lâm sàng.

Xem chi tiết

PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH TÁCH CHIẾT AND ĐỂ ỨNG DỤNG PCR XÁC ĐỊNH TRỰC TIẾP ESCHERICHIA COLI GÂY TIÊU CHẢY

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Vũ Trung, Lê Thị Tuyết Trinh

Việc xác định nhanh các căn nguyên vi khuẩn nói chung và Escherichia coli gây tiêu chảy (DEC) nói riêng bằng một kỹ thuật có độ nhạy và độ đặc hiệu cao sẽ có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và lựa chọn chế độ điều trị thích hợp cho bệnh nhân. Mục tiêu: phát triển, hoàn thiện quy trình tách chiết ADN của vi khuẩn trực tiếp từ phân và tối ưu hoá nồng độ ADN khuôn cho phản ứng PCR đa mồi xác định DEC. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu: 7 chủng DEC chuẩn, 10 mẫu phân trên lâm sàng. Phương pháp nghiên cứu: quy trình tách chiết ADN trực tiếp từ phân và PCR được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả: quy trình tách chiết ADN của vi khuẩn trực tiếp từ phân đã được phát triển và tối ưu. Đây là quy trình đơn giản, không cần các máy móc và trang thiết bị phức tạp, dễ thực hiện, toàn bộ quy trình cần khoảng 90 - 100 phút. Lượng ADN khuôn tối thiểu cần cho một phản ứng để có kết quả PCR dương tính là 100 ng. Kết luận: nghiên cứu này góp phần quan trọng vào việc xác định sớm các DEC trong phân và là cơ sở cho các nghiên cứu sau này xác định các căn nguyên vi khuẩn gây tiêu chảy trực tiếp từ phân

Xem chi tiết

Mô hình sử dụng dịch vụ y tế của vị thành niên tại một số tỉnh miền bắc năm 2004

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Lê Thị Kim Thoa, Lê Thị Thanh Xuân

Nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện tại 3 tỉnh hà nội, hà nam và thái nguyên nhằm mục tiêu: mô tả cách sử dụng dịch vụ y tế của vị thành niên (vtn) năm 2004. đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang phỏng vấn trực tiếp vị thành niên tuổi từ 10-19 tại thời điểm điều tra theo bộ câu hỏi bán cấu trúc. kết quả: trong số 1408 vtn, 56,4% đã đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế trước và sau 6 tháng và 36,1% cho biết không đến bất kỳ một cơ sở y tế nào. trong số 62,7% vtn khi bị ốm là gia đình hoặc vtn tự chữa trị cho chính mình và thực hành phổ biến nhất là mua thuốc tây về uống (47,1%) mà không có chỉ định điều trị của y bác sĩ. tỷ lệ vtn đến các cơ sở y tế còn thấp, chỉ có 22,7% sử dụng dịch vụ y tế công, trong đó chỉ có 12% vị thành niên đến trạm y tế xã phường và còn 3,8% không làm gì cả khi bị ốm1. kết luận: khi ốm đau, vị thành niên thường tự chữa trị bằng cách chính mình hoặc người nhà ra hiệu thuốc mua thuốc về uống. mặc dù trạm y tế xã là tuyến cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe đầu tiên nhưng vị thành niên đến khám chữa bệnh tại trạm y tế xã phường còn ít.

Xem chi tiết