Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của người dân phường Trung Dũng và Tân Phong, thành phố Biên Hoà về dự phòng nhiễm độc dioxin qua thực phẩm- 1 năm sau can thiệp.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Tuyết Hạnh, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Thanh Hà, Trần Vũ, Nguyễn Kim Ngân, Nguyễn Thị Quý

Sân bay Biên Hòa là một trong ba điểm nóng nhất về ô nhiễm dioxin tại Việt Nam. Nghiên cứu trước can thiệp (2007) cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của người dân tại phường Trung Dũng và Tân Phong về dự phòng phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm vẫn rất hạn chế. Năm 2008, chương trình can thiệp với cách tiếp cận Y tế công cộng đã được triển khai nhằm giảm thiểu nguy cơ phơi nhiễm dioxin qua thực phẩm cho người dân. Tháng 9/2009 nghiên cứu đánh giá KAP sau can thiệp đã được thực hiện nhằm mục tiêu: (1) Đánh giá sự thay đổi về kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng phơi nhiễm dioxin qua đường ăn uống thực phẩm ô nhiễm của người dân sống tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai trước và sau can thiệp (2007 - 2009); (2) Đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện và nhân rộng mô hình tại các điểm nóng dioxin khác ở Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: đây là một nghiên cứu đánh giá trước-sau can thiệp với đối tượng là 400 người mua/chế biến thực phẩm, tuổi từ 16 - 60, đại diện cho 400 hộ gia đình tại 2 phường được chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống. Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi-data 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 17.0 và Stata 10.0. Kết quả: kiến thức về sự tồn tại của dioxin trong môi trường và các đường xâm nhập dioxin từ trong môi trường vào cơ thể tăng lên 21% (χ2 = 50,3; p < 0,001) và 17,9% (χ2 = 45; p < 0,001) so với trước can thiệp. 77,7% cho rằng phơi nhiễm dioxin có thể gây dị tật, nhưng chỉ có 35,4%, và 0,7% biết các hậu quả như ung thư và ban clo. 71,8% cho rằng môi trường địa phương nơi họ sinh sống có bị ô nhiễm dioxin (so với 44,3% năm 2007; χ2 = 64,2; p < 0,001). 22% đối tượng biết thịt mỡ động vật là thực phẩm nguy cơ cao nếu được nuôi ở khu vực ô nhiễm (tăng gần 7%; χ2 = 6,6; p = 0,01); 41,7% đối tượng biết cá, tôm, nhuyễn thể nước ngọt là thực phẩm nguy cơ cao (tăng 14,1 %; χ2 = 6,6; p < 0,001). Kiến thức về các biện pháp dự phòng được cải thiện một cách có ý nghĩa thống kê. Thái độ của người dân sau can thiệp là tích cực với 80,9% tin tưởng vào các biện pháp dự phòng nhiễm độc. Chỉ có 0,6% số hộ ở phường Trung Dũng và 0,7% ở phường Tân Phong có tiêu thụ thực phẩm tự nuôi trồng. 24,6% biết nguồn gốc thực phẩm mà họ mua hàng ngày (tăng lên 8,6% so với trước can thiệp χ2 = 9,5, p = 0,009). 39,7% có thực hành dự phòng nhiễm độc dioxin qua thực phẩm, cao hơn tỷ lệ trước can thiệp (25,8%) (χ2= 18,5; p < 0,001). Kiến thức và thực hành của người dân liên quan với nhau có ý nghĩa thống kê (χ2 = 12,6; p = 0,013). Tỷ lệ đã có những thực hành đúng để phòng tránh nhiễm độc dioxin tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ người dân hàng ngày tiêu thụ các thực phẩm nguy cơ cao đều giảm. Kết luận và khuyến nghị: mô hình can thiệp với cách tiếp cận Y tế công cộng triển khai ở 2 phường Trung Dũng và Tân Phong đã đạt được những thành công ban đầu trong việc nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành của người dân địa phương về dioxin và dự phòng nhiễm độc dioxin qua thực phẩm. Nhóm nghiên cứu cần tiến hành thêm một nghiên cứu định tính trên đối tượng là các bên liên quan tại Biên Hòa để tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong quá trình triển khai chương trình, từ đó hoàn thiện mô hình can thiệp trước khi mở rộng ra các điểm nóng dioxin khác.

Xem chi tiết

Hóa Sinh Học (ĐH Sư Phạm)

Chủ biên: GS. TS. Phạm Thị Trân Châu

Nhà xuất bản: NXB Giáo Dục

Năm xuất bản: 2006

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Hoá sinh học nghiên cứu thành phẩn cấu tạo và các quá trình chuyển hoá các chất trong hệ thống sống. Trong nửa cuối thế kỉ XX, Hoá sinh học là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh nhất của Sinh học. Những thành tựu của Hoá sinh học đã góp phần làm sáng tỏ bản chất của sự sống, của các quá trình sống, cơ sở phân tử của quá trình truyền thông tin di truyền v.v.

Xem chi tiết

Tình hình sử dụng phụ gia hàn the và phẩm mầu trong một số thực phẩm chế biến sẵn và kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người nội trợ tại quận Đống Đa Hà Nội năm 2003

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Đỗ Thị Hoà, Lương Thuý Hằng, Nguyễn Thị Nguyệt, Trần Xuân Bách

Tiến hành một nghiên cứu ngang về thực trạng sử dụng hàn the và phẩm mầu không cho phép trên 342 mẫu thực phẩm và phỏng vấn 250 người nội trợ kiến thức thái độ thực hành về VSATTP, tại quận Đống Đa Hà Nội, trong thời gian 6 tháng cuối 2003. Chúng tôi đã rút ra các kết luận sau: 1. Về thực trạng sử dụng hàn the: 39,6% số mẫu xét nghiệm có sử dụng hàn the, trong đó giò lụa có tỷ lệ cao nhất và chả nạc là thấp nhất, bánh giò và bánh cuốn vẫn là thực phẩm cần quan tâm. 2. Về thực trạng sử dụng phẩm mầu: có 20,3% số mẫu dùng phẩm mầu không cho phép. Tuy nhiên, tập trung vào hạt dưa đỏ, ô mai đỏ và các thực phẩm không nhãn mác bán ở vỉa hè các cổng trường tiểu học và trung học. 3. Kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người nội trợ đã được nâng cao hơn trước. 4. 100% số người cần biết thêm kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, tập trung ở 3 nội dung như cách chọn thực phẩm sao cho an toàn, các triệu chứng khi bị ngộ độc và cách xử trí khi bị ngộ độc thực phẩm.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng ô nhiễm ASEN, Thủy ngân, CADIMI, Chì & NIKEN trong môi trường nuôi đến thực phẩm thủy sản tại 16 ao hồ Hà Nội

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trịnh Bảo Ngọc, Phạm Duy Tường, Trần Thị Thoa, Nguyễn Lân

Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng ô nhiễm As, Hg, Cd, Pb & Ni trong môi trường nuôi đến chất lượng thực phẩm thuỷ sản tại 16 ao hồ Hà Nội. Kết quả cho thấy 100% mẫu nước, mẫu bùn cặn và thủy sản bị nhiễm cả 5 kim loại được nghiên cứu với mức độ nhiễm khác nhau tùy theo ao nuôi, mùa vụ, tầng nước thủy sản sinh sống và loại thủy sản. Hàm lượng trung bình của As & Hg trong nước và trong thủy sản có mối tương quan chặt chẽ với nhau theo ao nuôi đối với những thủy sản sống ở tầng nước mặt và tầng nước giữa. Kết luận: Mức độ nhiễm về As, Hg, Cd, Ni trong môi trường nuôi (nước, bùn cặn) có ảnh hưởng rõ ràng tới mức độ nhiễm các kim loại này trong thủy sản với p <0,05 hoặc p < 0,001.

Xem chi tiết

Tác dụng bảo vệ của chế phẩm OS35 trên cơ quan sinh sản của chuột cống đực gây suy giảm sinh sản bằng natri valproat

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 5

Tác giả: Đậu Thùy Dương, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương, Lê Minh Hà, Trần Đức Phấn, Trần Thanh Tùng, Đinh Quang Trường, Đàm Đình Tranh

Quả xà sàng đã được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị suy giảm sinh sản ở nam giới. Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ của chế phẩm OS35 trên cơ quan sinh sản của chuột cống đực gây suy giảm sinh sản bằng natri valproat và trên khả năng thụ thai và sự phát triển phôi thai của chuột cống cái giao phối với chuột cống đực. Kết quả cho thấy OS35 liều 150 mg/kg/ngày làm tăng số lượng và hoạt động của tinh trùng ở chuột cống đực; tăng tỉ lệ thụ thai, số thai đậu, số thai bình thường; giảm tỉ lệ thai chết sớm/ muộn, mất trứng ở chuột cống cái. OS35 liều 150 mg/kg/ngày làm giảm tác dụng gây suy giảm sinh sản của natri valproat gây ra trên chuột cống đực.

Xem chi tiết

Xây dựng kỸ thuật multiplex - phát hiện trực tiếp gen độc tố của bacillus cereus ở thực phẩm gây nhiễm thực nghiệm

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 2

Tác giả: Trần Huy Hoàng, Phạm Nguyệt Minh, Lê Huy Hoàng,Trần Vân Khánh, Nguyễn Thị Hà, Tạ Thành Văn

Ngộ độc thực phẩm gây tiêu chảy do Bacillus cereus (B. cereus) là do tác động của ba loại độc tố ruột bao gồm độc tố ly giải hồng cầu (Hbl), không ly giải hồng cầu (Nhe) độc tố ruột (BceT). Mục tiêu: (1) Xây dựng kỹ thuật Multiplex - PCR để phát hiện trực tiếp các gen độc tố gây tiêu chảy của chủng B. cereus chuẩn ATCC4342, (2) Ứng dụng kỹ thuật Multiplex - PCR phát hiện các gen này của B. cereus trên thực phẩm gây nhiễm thực nghiệm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chủng chuẩn quốc tế B. cereus ATCC4342, cặp mồi bceT, nheA, hblA và hblD, thực phẩm sạch được sử dụng để xây dựng kỹ thuật Multi- plex - PCR. Kết quả: Giới hạn phát hiện gen độc tố của kỹ thuật Multiplex - PCR trong nghiên cứu là 103vk/ ml thực phẩm gây nhiễm thực nghiệm, giới hạn phát hiện này cao hơn khi so với kết quả của Jackson và CS là 4x103vk/ml thực phẩm. Kết luận: (1) Đã xây dựng thành công kỹ thuật Multiplex - PCR để phát hiện trực tiếp gen độc tố của B. cereus, (2) Sử dụng kỹ thuật Multiplex PCR đã phát hiện được các gen độc tố của B. cereus trên thực phẩm gây nhiễm thực nghiệm.

Xem chi tiết

Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống cúm A/H5N1 của người sử dụng sản phẩm gia cầm,quận Tây Hồ, Hà Nội

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Đặng Thị Mai Oanh, Trần Hữu Bích

Cúm gia cầm gây nên bởi vi rút cúm A, phân typ A/H5N1 và là bệnh lây truyền từ gia cầm sangngười có tỷ lệ tử vong cao. Sự hiểu biết không đầy đủ về dịch bệnh được coi là một trong những nguycơ tiềm ẩn bùng phát đại dịch. Mục tiêu: mô tả kiến thức, thái độ, thực hành mua và sử dụng sản phẩmgia cầm của người dân và xác định một số yếu tố liên quan, tại quận Tây Hồ, Hà Nội. Đối tượng vàphương pháp nghiên cứu: cắt ngang phân tích mẫu xác xuất 405 người sử dụng sản phẩm gia cầm. Kếtquả: hành vi nguy cơ như sờ vào thịt trứng khi mua, không sử dụng phương tiện bảo vệ khi giết mổ, chếbiến gia cầm vẫn tồn tại. Có mối liên quan giữa kiến thức với thái độ, giữa thái độ với thực hành củangười dân về mua bán gia cầm sống, chế biến, sử dụng thịt, trứng gia cầm an toàn. Kết luận: truyềnthông, khuyến khích việc áp dụng các biện pháp dự phòng tại hộ gia đình khi sử dụng và chế biến cácsản phẩm gia cầm

Xem chi tiết