Ảnh hưởng ô nhiễm ASEN, Thủy ngân, CADIMI, Chì & NIKEN trong môi trường nuôi đến thực phẩm thủy sản tại 16 ao hồ Hà Nội

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trịnh Bảo Ngọc, Phạm Duy Tường, Trần Thị Thoa, Nguyễn Lân

Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng ô nhiễm As, Hg, Cd, Pb & Ni trong môi trường nuôi đến chất lượng thực phẩm thuỷ sản tại 16 ao hồ Hà Nội. Kết quả cho thấy 100% mẫu nước, mẫu bùn cặn và thủy sản bị nhiễm cả 5 kim loại được nghiên cứu với mức độ nhiễm khác nhau tùy theo ao nuôi, mùa vụ, tầng nước thủy sản sinh sống và loại thủy sản. Hàm lượng trung bình của As & Hg trong nước và trong thủy sản có mối tương quan chặt chẽ với nhau theo ao nuôi đối với những thủy sản sống ở tầng nước mặt và tầng nước giữa. Kết luận: Mức độ nhiễm về As, Hg, Cd, Ni trong môi trường nuôi (nước, bùn cặn) có ảnh hưởng rõ ràng tới mức độ nhiễm các kim loại này trong thủy sản với p <0,05 hoặc p < 0,001.

Xem chi tiết

Hóa Sinh Học (ĐH Sư Phạm)

Chủ biên: GS. TS. Phạm Thị Trân Châu

Nhà xuất bản: NXB Giáo Dục

Năm xuất bản: 2006

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Hoá sinh học nghiên cứu thành phẩn cấu tạo và các quá trình chuyển hoá các chất trong hệ thống sống. Trong nửa cuối thế kỉ XX, Hoá sinh học là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh nhất của Sinh học. Những thành tựu của Hoá sinh học đã góp phần làm sáng tỏ bản chất của sự sống, của các quá trình sống, cơ sở phân tử của quá trình truyền thông tin di truyền v.v.

Xem chi tiết

Xây dựng phương pháp định lượng thuỷ ngân trong một số mỹ phẩm dạng kem bôi da bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Vũ Quang, Đỗ Thị Thanh Thủy, Thái Nguyễn Hùng Thu, Lê Thị Hường Hoa, Lê Đình Chi

Theo Hiệp định hòa hợp quản lý mỹ phẩm của ASEAN năm 2003, thủy ngân và các hợp chất có chứa thủy ngân không được phép có mặt trong mỹ phẩm. ASEAN cũng đưa ra giới hạn cho phép với thủy ngân là 0,5ppm. Mục tiêu: đưa ra một quy trình xác định hàm lượng thủy ngân có thể có trong một số đối tượng mẫu mỹ phẩm mà trước mắt là dạng kem bôi da phải đảm bảo độ đặc hiệu, độ nhạy cao, đáp ứng được giới hạn phát hiện mà phương pháp ASEAN đã quy định và có khả năng thực hiện được với những thiết bị hiện có để kiểm tra hàm lượng thủy ngân trên một số mẫu mỹ phẩm đang lưu hành trên thị trường Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu: 6 mẫu mỹ phẩm dạng kem bôi da được mua trên thị trường (mã hóa M1-M6). Dung dịch chuẩn thuỷ ngân 1000mg/ml (J.T.Baker, Mỹ). Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Z-5000 (Hitachi, Nhật Bản) được trang bị bộ dụng cụ phân tích thuỷ ngân chuyên dụng "A.A- Mercury Reduction Unit". Phương pháp nghiên cứu: Xử lý mẫu bằng kỹ thuật vô cơ hoá ướt trong thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng. Quy trình đo thủy ngân bằng phương pháp hoá hơi lạnh ở nhiệt độ thường cho phép loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nền mẫu. Kết quả thực nghiệm và bàn luận: xác định điều kiện vô cơ hóa mẫu: Chương trình nhiệt độ cho thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng với hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxid 30%. Sau khi vô cơ hóa trong thiết bị xử lý mẫu bằng vi sóng, thêm dung dịch kali permanganat 5% để ổn định toàn lượng thủy ngân có trong mẫu về dạng Hg2+để chuẩn bị sẵn sàng cho quá trình khử hóa Hg2+ về Hg0 ở dạng hơi để phân tích toàn lượng bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử. Phương pháp được thẩm định về độ lặp lại, độ đúng, với LOD là 30ng và LOQ là 100ng thủy ngân tính theo tổng lượng thủy ngân có trong phần mẫu đem phân tích. Kết quả phân tích 6 mẫu cho thấy 2 mẫu (M2 và M3) có chứa thủy ngân. Hàm lượng thủy ngân đã xác định được trong mẫu M2 là 29,9ppm và trong mẫu M3 là 1,4ppm, đều cao hơn mức độ khuyến cáo trong phương pháp hòa hợp của ASEAN là 0,5ppm. Tuy số lượng mẫu khảo sát còn ít nhưng cho thấy nguy cơ lạm dụng thủy ngân trong mỹ phẩm dạng kem bôi da là rất tiềm ẩn nên cần khảo sát rộng hơn để có kết luận chính thức và có biện pháp kiểm soát chặt chẽ mỹ phẩm về tiêu chí này. Kết luận: quy trình định lượng thủy ngân trong mỹ phẩm bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử với quá trình vô cơ hóa mẫu được thực hiện trong lò vi sóng sử dụng hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxyd 30%. Quá trình phân tích thủy ngân được thực hiện bằng phương pháp nguyên tử hóa lạnh sử dụng đèn cathod rỗng thủy ngân ở bước sóng 253,7nm và dung dịch SnCl210% làm tác nhân khử. Quy trình đã được áp dụng kiểm tra thủy ngân trong 6 mẫu kem bôi da, kết quả đã phát hiện 2 mẫu có hàm lượng thủy ngân cao hơn giới hạn quy định của phương pháp hòa hợp ASEAN (0,5ppm).

Xem chi tiết

Nghiên cứu bào chế chế phẩm trà tan “thảo sâm đông đô” dùng cho cộng đồng

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Hoàng Minh Chung

Nghiên cứu bào chế trà tan “thảo sâm đông đô” từ thảo dược để phục vụ cộng đồng. mục tiêu: (1) chuẩn hóa qui trình bào chế, tiêu chuẩn hóa; (2) xác định thử tác dụng dược lý của chế phẩm. đối tượng và phương pháp: trà tan “thảo sâm đông đô” được bào chế từ dịch chiết men bia, đẳng sâm và cam thảo. phương pháp chế biến, bào chế thuốc cốm tan (trà tan); hplc; quang phổ hấp thụ nguyên tử và thử tác dụng tăng dưỡng trên chuột cống trắng sdd. kết quả: đã xác định qui trình bào chế chuẩn, tiêu chuẩn chế phẩm với các chỉ tiêu định tính và định lượng. đã xác định hàm lượng saponin, 21 acid amin và 7 nguyên tố vi lượng dạng tự nhiên trong đó có fe, ca, zn, se, mg, cu và mn trong trà tan. trà tan “thảo sâm đông đô” có tác dụng làm tăng cân nặng, hồng cầu, hb, protein so với lô chứng suy dinh dưỡng với p < 0,05 so với lô đối chiếu chỉ có cân nặng khác với p > 0,05. kết luận: trà tan “thảo sâm đông đô” chuẩn có tác dụng cải thiện tình trạng dinh dưỡng trên thực nghiệm.

Xem chi tiết

nghiên cứu tác dụng chống oxy hoá của chế phẩm ah

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 3

Tác giả: đặng kim thanh, vũ thị ngọc thanh

chế phẩm ah là bài thuốc gồm 12 vị thuốc thảo mộc, đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ gan trên thực nghiệm. mục tiêu: đánh giá tác dụng chống oxy hóa in vitro và in vivo của chế phẩm ah. đối tượng, phương pháp: (1) đánh giá tác dụng dọn gốc tự do anion superoxid và sự hình thành mda (in vitro) của chế phẩm ah, (2) đánh giá tác dụng của chế phẩm ah trên quá trình peroxi hóa lipid màng tế bào gan chuột nhắt trắng bị tổn thương gan thực nghiệm (in vivo). kết quả: chế phẩm ah có tác dụng dọn gốc anion superoxid, nồng độ ức chế 50% là 26,6 µg/ml. in vitro, chế phẩm ah nồng độ 125µg/ml ức chế sự tạo thành mda 53,70%. trên hai mô hình gây tổn thương gan cấp bằng ccl4 và par trên chuột nhắt trắng, nồng độ mda ở gan các lô uống ah liều 4,8 viên/kg và 9,6 viên/kg đều giảm rõ rệt so với lô gây độc nhưng không dùng thuốc(giảm 33,9% đến 36,6% ở mô hình ccl4 ; giảm 21,4% đến 25,3% ở mô hình par). kết luận: chế phẩm ah có tác dụng chống oxy hóa, góp phần vào cơ chế bảo vệ gan của chế phẩm này trên thực nghiệm. từ khóa: tác dụng chống oxy hóa, cơ chế bảo vệ gan, thuốc thảo mộc

Xem chi tiết

TỶ LỆ HIỆN MẮC ĐỘNG KINH TẠI XÃ PHÙ LINH HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2003

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Văn Hướng, Lê Quang Cường

Nghiên cứu nhằm đưa ra các thông tin về tỷ lệ hiện mắc động kinh (ĐK) tại một cộng đồng nông thôn Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: điều tra “gõ cửa từng nhà” dựa theo bộ câu hỏi của WHO do các bác sĩ, sinh viên chuyên khoa Thần kinh và Y tế Công cộng – Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện. Kết quả: tỷ lệ hiện mắc động kinh: 7,5‰ (5,5‰ là động kinh hoạt động). Động kinh toàn bộ: 79,66%, động kinh cục bộ: 16,95%, động kinh không phân loại: 3,39%. Có mối liên quan giữa trình độ học vấn và tỷ lệ hiện mắc động kinh. Kết luận: tỷ lệ hiện mắc kỳ Tại xã Phù linh năm 2003 là 7,5%o. Động kinh cơn toàn thể chiếm tỷ lệ lớn. Có mối quan hệ giữa tỷ lệ mắc động kinh với trình độ học vấn.

Xem chi tiết

Nghiên cứu điều chế, xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm và xác định độ ổn định cho chế phẩm gel Piroxicam 0,5%.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Phục Hưng, Cao Thị Hồng Vân, Đỗ Châu Minh Vĩnh Thọ

Piroxicam một hoạt chất kháng viêm không steroid mạnh được bào chế tối ưu hóa công thức dạng gel bôi ngoài da (gel piroxicam 0,5%) bằng phương pháp khảo sát khả năng phóng thích hoạt chất piroxicam qua màng bán thấm. Việc bào chế thành công chế phẩm gel chứa Piroxicam 0,5% hoàn chỉnh từ khâu tối ưu hoá công thức bào chế đến xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm và thử độ ổn định, để có thể chuyển giao qui trình sản xuất từ quy mô phòng thí nghiệm sang quy mô pilot và qui mô công nghiệp. Mục tiêu: đưa vào thị trường trong nước một chế phẩm gel có tác dụng kháng viêm tại chỗ hiệu quả với giá thành hạ so với các chế phẩm ngoài nước, góp phần vào công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Gel piroxicam 0,5%; Piroxicam nguyên liệu, Piroxicam chất chuẩn đối chiếu. Tá dược điều chế gel, đạt tiêu chuẩn dược dụng. Các hóa chất, thuốc thử dùng trong nghiên cứu đạt chuẩn phân tích. Máy quang phổ UV-Vis Hitachi U2800, HPLC Hitachi L-2000, tủ vi khí hậu Eviron-Cab. Khảo sát khả năng tạo gel của tá dược Carbopol 940. Nghiên cứu công thức gel thuốc cho khả năng giải phóng hoạt chất cao nhất bằng phương pháp khuếch tán qua màng bán thấm. Điều chế công thức tối ưu của gel piroxicam 0,5%. So sánh khả năng giải phóng hoạt chất giữa gel piroxicam 0,5% với gel Geldene® (Pfizer) bằng phương pháp khuếch tán qua màng bán thấm và khuếch tán keo. Xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm. Hình thức cảm quan: gel có màu vàng, thể chất mềm, trong suốt. pH: dung dịch gel 10% có pH từ 7,2 - 8,2. Thử kích ứng trên da thỏ theo tiêu chuẩn 3113 của BYT . Định tính: bằng phản ứng hoá học, sắc ký lớp mỏng (BP 2007). Khảo sát điều kiện và thẩm định quy trình định lượng Piroxicam trong chế phẩm gel Piroxicam 0,5% bằng phương pháp quang phổ tử ngoại khả kiến. Thăm dò điều kiện sắc ký tối ưu, xây dựng và thẩm định quy trình định lượng Piroxicam trong chế phẩm gel Piroxicam 0,5% bằng phương pháp HPLC. Khảo sát độ ổn định của chế phẩm bằng phương pháp lão hóa cấp tốc. Kết quả: từ kết quả đo độ nhớt, độ dàn mỏng của carbopol ở các nồng độ, khảo sát khả năng tạo thành màng, chúng tôi chọn nồng độ carbopol thích hợp tạo gel là A%, sử dụng phương pháp khuếch tán qua màng bán thấm để xác định khả năng phóng thích hoạt chất piroxicam tối ưu trên in vitro từ đó giúp xác định công thức bào chế tối ưu cho gel piroxicam 0,5% đồng thời thực hiện việc so sánh khả năng giải phóng hoạt chất qua màng bán thấm và khuyếch tán keo giữa chế phẩm gel piroxicam 0,5% chế phẩm gel Geldene. Xây dựng được tiêu chuẩn kiểm nghiệm gel Piroxicam 0,5% về các chỉ tiêu: Hình thức cảm quan, định tính, pH, định lượng (Uv-Vis, HPLC). Cả hai phương pháp đều cho độ đúng và độ chính xác cao nhưng phương pháp HPCL cho độ chính xác cao hơn. Ước lượng được tuổi thọ của chế phẩm bằng phương pháp lão hóa cấp tốc: 2,26 năm. Kết luận - Khuyến nghị: việc bào chế thành công chế phẩm gel chứa Piroxicam 0,5% hoàn chỉnh từ khâu tối ưu hoá công thức bào chế đến xây dựng tiêu chuẩn kiểm nghiệm và xác định độ ổn định giúp tạo tiền đề cho việc chuyển giao qui trình sản xuất từ quy mô phòng thí nghiệm sang quy mô pilot, qui mô công nghiệp, Tuy nhiên nếu có thêm thời gian thực hiện và kinh phí nghiên cứu xin được kiến nghị thực hiện việc khảo sát việc độ ổn định thuốc bằng phương pháp HPLC nhằm theo dõi sản phẩm phân hủy hiệu quả hơn cũng như khảo sát tuổi thọ thuốc bằng cả phương pháp theo dõi tự nhiên và già hóa cấp tốc nhằm thu được kết quả có độ tin cậy cao nhất.

Xem chi tiết

Thực trạng vệ sinh tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh và chế biến thực phẩm tại 4 xã (thuộc Hà Tây cũ) năm 2008

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Đào Thị Minh An, Trần Thị Phúc Nguyệt

Mục tiêu: Đánh giá thực trạng vệ sinh tại các cơ sở kinh doanh, chế biến và sản xuất thực phẩm tại 4 xã (thuộc Hà Tây cũ) năm 2008. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả với kĩ thuật quan sát được thực hiện tại các cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh và chế biến thực phẩm hoặc các quán ăn cố định. Kết quả: Tỷ lệ mổ súc vật trên sàn 79,5%, có sử dụng bảo hộ khi giết mổ súc vật 20,4%, đóng gói trước khi xuất hàng 6,8%, số cơ sở làm vệ sinh tiêu độc trước và sau khi giết mổ (52,2%), được tập huấn về vệ sinh an toàn thực phẩm và khám sức khỏe định kỳ (45,4% và 40,9%). Cơ sở kinh doanh và chế biến thực phẩm đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chiếm 13,9%, có 30,4% cơ sở sử dụng nước máy trong quá trình chế biến thực phẩm, có sử dụng bảo hộ lao động đạt 21,7%, thùng rác có nắp đậy kín và đổ hàng ngày đạt 30%. Kết luận: Các cơ sở kinh doanh, chế biến và sản xuất thực phẩm chưa đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm như mổ súc vật trên sàn, thùng rác không đậy nắp và đổ hàng ngày, chưa thực hiện đầy đủ bảo hộ lao động, tiêu độc trước và sau khi giết mổ.

Xem chi tiết