Xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Hoàng Minh Hằng, Trần Thúy Nga

Nghiên cứu nhằm xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính. Kết quả cho thấy chương trình Thi trắc nghiệm đã được áp dụng để tổ chức thực hiện việc thi hết môn Tin học cho tất cả các đối tượng: Sinh viên Y1, Cao học, CKI, CKII, CNĐDTC,… từ năm học 2009 -2010 đến nay. Chương trình đã đáp ứng được các tiêu chí: câu hỏi bao phủ chương trình, điểm thi phân loại được sinh viên. Chương trình thi trắc nghiệm trên máy tính ra đời đã giải quyết được phần lớn những khó khăn, vất vả trong việc thi cử. Ngoài ra, chương trình cũng đảm bảo tính công bằng, khách quan và giảm bớt tiêu cực trong thi cử.

Xem chi tiết

Đánh giá tình trạng thị giác hai mắt sau phẫu thuật lác cơ năng người lớn

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Chí Dũng , Trần Huy Đoàn

Sự cải thiện thị giác 2 mắt (TG2M) sau phẫu thuật lác người lớn đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới, nhưng ở nước ta chưa nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: đánh giá tình trạng TG2M và các yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi TG2M sau mổ lác cơ năng người lớn. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc, thực hiện tiến cứu tại bệnh viện Mắt Trung ương từ 10/2005 đến 7/2006. Kết quả: 16,1% bệnh nhân (BN) có thị lực sau mổ tăng từ 0,1 lên 0,4; có 46,2% có cải thiện TG2M sau mổ lác 6 tháng, trong đó BN có đồng thị tăng từ 9,2% lên 13,2%, có đồng thị + hợp thị tăng từ 16,9% lên 47,4%, có cả 3 mức độ TG2M tăng từ 0% lên 10,5%. Tình trạng tương ứng võng mạc bình thường tăng từ 23,0% lên 56,9%. Về các yếu tố ảnh hưởng tới phục hồi TG2M: 1. Tuổi xuất hiện lác: TG2M phục hồi ở 60% số BN bị lác sau 9 tuổi, phục hồi kém nhất (15,4%) ở BN lác xuất hiện sớm trước 6 tháng tuổi; 2. Sự ổn định độ lác: phục hồi TG2M 50,9% ở nhóm lác ổn định; 3.Kết quả chỉnh lệch trục nhãn cầu tốt: phục hồi TG2M ở 50,9%; 4. Lệch khúc xạ 2 mắt: cải thiện TG2M ở 62,9% nhóm không có lệch khúc xạ. Kết luận: thị lực của mắt mổ và TG2M có thể được cải thiện khá tốt sau mổ lác cơ năng người lớn.

Xem chi tiết

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ổ bụng một thì điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Vũ Thị Hồng Anh, Nguyễn Thanh Liêm, Bùi Đức Hậu, Trần Anh Quỳnh

Mục tiêu: ứng dụng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi (PTNS) ổ bụng điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu, gồm 31 BN dưới 36 tháng tuổi, được chẩn đoán xác định bệnh PĐTBS dựa vào lâm sàng, X quang và sinh thiết tức thì trong mổ có vị trí vô hạch từ trực tràng tới đại tràng xích ma được phẫu thuật nội soi một thì từ tháng 12/2007 đến tháng 9/2008. Kết quả: 31 BN bị bệnh PĐTBS gồm 27 nam và 4 nữ, tuổi trung bình lúc mổ là 4,8 ± 1,1 tháng (từ 16 ngày - 24 tháng), trọng lượng trung bình là 5,25 ± 0,4 kg, 6 BN có vị trí vô hạch ở trực tràng (19,4%), 25 BN có vị trí vô hạch tới đại tràng xích ma (79,6%). Tất cả các BN đều được đặt 3 trocar 5mm và 1 trocar 3mm với áp lực bơm C02 bằng 1/10 trị số huyết áp động mạch BN. Thời gian phẫu thuật trung bình 127 phút (từ 90 - 180 phút), đoạn ruột cắt trung bình 21,45 cm (từ 14 - 30 cm). Không có tai biến trong mổ, BN được ăn sau mổ 24 giờ, không có tử vong, không có BN nào bị bục miệng nối, nhiễm trùng vết mổ, 2 BN bị lòi mạc nối khi rút dẫn lưu, 7 BN có đỏ da quanh hậu môn. Thời gian nằm điều trị sau mổ trung bình 6,23 ± 0,2 ngày. Khi xuất viện các BN đều có khả năng tự đại tiện. Kết luận: PTNS ổ bụng điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh một thì với độ an toàn, thẩm mỹ, ít sang chấn hoàn toàn có thể thực hiện được cho BN dưới 36 tháng tuổi có vị trí vô hạch từ trực tràng tới đại tràng xích ma.

Xem chi tiết