Xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Hoàng Minh Hằng, Trần Thúy Nga

Nghiên cứu nhằm xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính. Kết quả cho thấy chương trình Thi trắc nghiệm đã được áp dụng để tổ chức thực hiện việc thi hết môn Tin học cho tất cả các đối tượng: Sinh viên Y1, Cao học, CKI, CKII, CNĐDTC,… từ năm học 2009 -2010 đến nay. Chương trình đã đáp ứng được các tiêu chí: câu hỏi bao phủ chương trình, điểm thi phân loại được sinh viên. Chương trình thi trắc nghiệm trên máy tính ra đời đã giải quyết được phần lớn những khó khăn, vất vả trong việc thi cử. Ngoài ra, chương trình cũng đảm bảo tính công bằng, khách quan và giảm bớt tiêu cực trong thi cử.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng ô nhiễm ASEN, Thủy ngân, CADIMI, Chì & NIKEN trong môi trường nuôi đến thực phẩm thủy sản tại 16 ao hồ Hà Nội

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trịnh Bảo Ngọc, Phạm Duy Tường, Trần Thị Thoa, Nguyễn Lân

Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng ô nhiễm As, Hg, Cd, Pb & Ni trong môi trường nuôi đến chất lượng thực phẩm thuỷ sản tại 16 ao hồ Hà Nội. Kết quả cho thấy 100% mẫu nước, mẫu bùn cặn và thủy sản bị nhiễm cả 5 kim loại được nghiên cứu với mức độ nhiễm khác nhau tùy theo ao nuôi, mùa vụ, tầng nước thủy sản sinh sống và loại thủy sản. Hàm lượng trung bình của As & Hg trong nước và trong thủy sản có mối tương quan chặt chẽ với nhau theo ao nuôi đối với những thủy sản sống ở tầng nước mặt và tầng nước giữa. Kết luận: Mức độ nhiễm về As, Hg, Cd, Ni trong môi trường nuôi (nước, bùn cặn) có ảnh hưởng rõ ràng tới mức độ nhiễm các kim loại này trong thủy sản với p <0,05 hoặc p < 0,001.

Xem chi tiết

Xây dựng phương pháp định lượng thuỷ ngân trong một số mỹ phẩm dạng kem bôi da bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Vũ Quang, Đỗ Thị Thanh Thủy, Thái Nguyễn Hùng Thu, Lê Thị Hường Hoa, Lê Đình Chi

Theo Hiệp định hòa hợp quản lý mỹ phẩm của ASEAN năm 2003, thủy ngân và các hợp chất có chứa thủy ngân không được phép có mặt trong mỹ phẩm. ASEAN cũng đưa ra giới hạn cho phép với thủy ngân là 0,5ppm. Mục tiêu: đưa ra một quy trình xác định hàm lượng thủy ngân có thể có trong một số đối tượng mẫu mỹ phẩm mà trước mắt là dạng kem bôi da phải đảm bảo độ đặc hiệu, độ nhạy cao, đáp ứng được giới hạn phát hiện mà phương pháp ASEAN đã quy định và có khả năng thực hiện được với những thiết bị hiện có để kiểm tra hàm lượng thủy ngân trên một số mẫu mỹ phẩm đang lưu hành trên thị trường Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu: 6 mẫu mỹ phẩm dạng kem bôi da được mua trên thị trường (mã hóa M1-M6). Dung dịch chuẩn thuỷ ngân 1000mg/ml (J.T.Baker, Mỹ). Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Z-5000 (Hitachi, Nhật Bản) được trang bị bộ dụng cụ phân tích thuỷ ngân chuyên dụng "A.A- Mercury Reduction Unit". Phương pháp nghiên cứu: Xử lý mẫu bằng kỹ thuật vô cơ hoá ướt trong thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng. Quy trình đo thủy ngân bằng phương pháp hoá hơi lạnh ở nhiệt độ thường cho phép loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nền mẫu. Kết quả thực nghiệm và bàn luận: xác định điều kiện vô cơ hóa mẫu: Chương trình nhiệt độ cho thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng với hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxid 30%. Sau khi vô cơ hóa trong thiết bị xử lý mẫu bằng vi sóng, thêm dung dịch kali permanganat 5% để ổn định toàn lượng thủy ngân có trong mẫu về dạng Hg2+để chuẩn bị sẵn sàng cho quá trình khử hóa Hg2+ về Hg0 ở dạng hơi để phân tích toàn lượng bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử. Phương pháp được thẩm định về độ lặp lại, độ đúng, với LOD là 30ng và LOQ là 100ng thủy ngân tính theo tổng lượng thủy ngân có trong phần mẫu đem phân tích. Kết quả phân tích 6 mẫu cho thấy 2 mẫu (M2 và M3) có chứa thủy ngân. Hàm lượng thủy ngân đã xác định được trong mẫu M2 là 29,9ppm và trong mẫu M3 là 1,4ppm, đều cao hơn mức độ khuyến cáo trong phương pháp hòa hợp của ASEAN là 0,5ppm. Tuy số lượng mẫu khảo sát còn ít nhưng cho thấy nguy cơ lạm dụng thủy ngân trong mỹ phẩm dạng kem bôi da là rất tiềm ẩn nên cần khảo sát rộng hơn để có kết luận chính thức và có biện pháp kiểm soát chặt chẽ mỹ phẩm về tiêu chí này. Kết luận: quy trình định lượng thủy ngân trong mỹ phẩm bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử với quá trình vô cơ hóa mẫu được thực hiện trong lò vi sóng sử dụng hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxyd 30%. Quá trình phân tích thủy ngân được thực hiện bằng phương pháp nguyên tử hóa lạnh sử dụng đèn cathod rỗng thủy ngân ở bước sóng 253,7nm và dung dịch SnCl210% làm tác nhân khử. Quy trình đã được áp dụng kiểm tra thủy ngân trong 6 mẫu kem bôi da, kết quả đã phát hiện 2 mẫu có hàm lượng thủy ngân cao hơn giới hạn quy định của phương pháp hòa hợp ASEAN (0,5ppm).

Xem chi tiết

Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Nguyễn Thị Nga

Ra đề thi là một khâu rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập. Xây dựng được cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và tạo lập đề thi ngẫu nhiên sẽ đảm bảo tính khách quan trong quá trình ra đề thi, bao quát nội dung chương trình, nhanh chóng, thuận tiện cũng như đảm bảo tính bí mật của đề thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Mục tiêu: Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mẫu đề của các bộ môn, đơn vị, các quy chế thi cử và yêu cầu về đề thi nghiệm trên giấy để xây dựng cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và phần mềm tạo lập đề thi trắc nghiệm. Kết quả: Chương trình tạo đề thi ngẫu nhiên đã được áp dụng để ra đề thi tuyển sinh sau đại học môn Toán (Cao học, nghiên cứu sinh, Bác sĩ nội trú bệnh viện) từ năm học 2004 đến nay, đáp ứng tốt các yêu cầu đặt ra. Kết luận: Phần mềm này được thực hiện dễ dàng đảm bảo tính khách quan, khoa học trong quá trình ra đề và đã phần nào giải quyết được những khó khăn, vất vả trong khâu ra đề thi.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng ô nhiễm môi trường nuôi đến chất lượng thuỷ sản ở một số ao hồ Hà Nội

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trịnh Bảo Ngọc, Phạm Duy Tường, Nguyễn Thị Tuyến, Trần Thị Thoa, Lê Thị Tài

Mục tiêu: nghiên cứu mức độ ảnh hưởng ô nhiễm kim loại nặng và vi sinh vật trong môi trường nuôi đến chất lượng thuỷ sản ở một số ao hồ Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: lấy mẫu nước, bùn, thuỷ sản ở một số ao hồ nuôi trồng thuỷ sản tại 2 thời điểm mùa mưa và mùa khô để xét nghiệm định lượng một số kim loại nặng (As, Cr, Hg, Pb, Cd, Ni), và vi sinh vật (VKHK, E. Coli). Kết quả: kết quả thu được về mức độ nhiễm kim loại nặng và vi sinh vật trong 100 mẫu nước, 81 mẫu bùn cặn và 240 mẫu thủy sản các loại được lấy từ 17 ao hồ hiện đang nuôi thủy sản của Hà Nội vào mùa mưa (tháng 8, 9) và mùa khô (tháng 1,2) cho thấy 100% mẫu nước, bùn cặn và thủy sản bị nhiễm kim loại nặng As, Cr, Hg, Pb, Cd, Ni, VKHK & E. coli. Mức độ ô nhiễm có sự khác nhau tùy theo mùa, mùa khô mức độ ô nhiễm cao hơn hẳn so với mùa mưa. Kết luận: mức độ ô nhiễm của môi trường nuôi (nước, bùn cặn) có ảnh hưởng rõ ràng tới mức độ ô nhiễm trong thủy sản về cả kim loại nặng cũng như vi sinh đối với hầu hết các chỉ số nghiên cứu với p < 0,05 hoặc p < 0,001.

Xem chi tiết

Định loại sán lá gan lớn (giống Fasciola) ở người và gia súc bằng chỉ thị ADN

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Đặng Tất Thế, Lê Quang Hùng, Cao Văn Viên

Đối chiếu, so sánh và phân tích trình tự ADN của 2 mẫu sán thu từ người và 4 mẫu có sai khác hình thái ngoài thu từ bò vùng Bình Định với các trình tự tương đồng của Fasciola ở một số nước nam á và thế giới cho kết quả: các mẫu sán lá gan lớn ở người và bò đều thuộc loài F. gigantica, và lần đầu tiên loài sán này được xác nhận ký sinh ở người Việt Nam. Quần thể F. gigantica ở Việt Nam và một số nước vùng nam á, trừ Indonesia có mức độ tương đồng khá cao về cấu trúc di truyền. Khảo sát 1350 sán lá gan lớn thu thập từ trâu, bò ở vùng Bình Định, Khánh Hoà đã tìm thấy 3 nhóm hình thái ngoài của chúng là nhóm giống F. hepatica, nhóm trung gian giữa F. hepatica và F. gigantica và nhóm F. gigantica. Dùng phản ứng PCR đặc hiệu loài F. gigantica để phân tích các nhóm hình thái này cho kết quả chúng đều là F. gigantica, chứng tỏ mức độ biến dị hình thái ngoài của F. gigantica là rất lớn. Kết quả cũng cho thấy quần thể sán lá gan lớn thu được từ trâu, bò ở vùng Bình Định, Khánh Hoà thuộc loai F. gigantica và khả năng tồn tại quần thể F. hepatica ở vùng này là rất thấp. Ngoài ra, còn phát hiện được một biến thể Redia con của F. gigantica có chứa nhiều cercaria hơn loại thông thường.

Xem chi tiết