Thực trạng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS tại thành phố

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 2

Tác giả: Đào Thị Minh An1, Hoàng Thủy Long2. Nguyễn Trần Hiển1

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ngang với mục đích thăm dò nhu cầu, việc sử dụng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS và thực trạng hoạt động tư vấn tại các cơ sở tư vấn HIV/AIDS tại thành phố Hà nội. Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi điều tra, thảo luận nhóm từ 8 nhóm đối tượng có hành vi có nguy cơ hoặc có những vấn đề liên quan mật thiết tới HIV/AIDS; phỏng vấn sâu cán bộ trực tiếp làm tư vấn và quan sát trực tiếp tại các cơ sở tư vấn. Nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn HIV/AIDS trong 8 nhóm đối tượng điều tra là thấp (45,7%). Trong số có nhu cầu mới chỉ có 41,6% đã sử dụng dịch vụ. Những nhóm sử dụng dịch vụ chính là người nhiễm và người nhà của người nhiễm. Nguyên nhân của việc sử dụng dịch vụ thấp từ phía người sử dụng dịch vụ là nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS chưa cao. Đối với phía cung cấp dịch vụ là những bất cập trong mô hình, tổ chức, đầu tư cho hoạt động dẫn đến dịch vụ chưa đảm bảo khả năng tiếp cận cũng như yêu cầu cần thiết cho người sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV/AIDS của người dân là rất cần thiết. Việc tổ chức lại dịch vụ tư vấn hợp lý đảm bảo khả năng tiếp cận tối đa cho người sử dụng dịch vụ là việc cần làm ngay. Đồng thời cần phải xã hội hoá công tác tư vấn HIV/AIDS, coi tư vấn là nhiệm vụ chung của xã hội, cộng đồng chứ không phải là nhiệm vụ riêng của ngành Y tế là vấn đề cần được quan tâm và giải quyết.

Xem chi tiết

Mối liên quan giữa một số yếu tố văn hoá, xã hội và ý tưởng tự tử tại cộng đồng dân cư quận Đống Đa, Hà Nội

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 2

Tác giả: Trần Thị Thanh Hương, Hoàng Hoa Sơn, Phạm Thị Minh Đức, Nguyễn Văn Tường

2280 người bình thường sống tại địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn về sự xuất hiện ý tưởng tự tử trong cuộc đời cũng như trong 12 tháng vừa qua. Tỷ lệ những người có ý định tự tử nhỏ hơn so với ở Trung Quốc và các nước Tây Âu. Kết quả cho thấy có sự tương quan có ý nghĩa thống kế giữa ý tưởng tự tử và giới nữ (p < 0,001), tình trạng hôn nhân (ly dị/ly thân hay chưa lập gia đình) với p < 0,001, lối sống (đã từng sống với các bạn tình khác nhau) với p < 0,001, nghề nghiệp (học sinh, sinh viên) với p < 0,001. Nhưng ý tưởng tự tử không có tương quan với tôn giáo và số năm đi học.

Xem chi tiết

Tư vấn di truyền - sàng lọc và chẩn đoán trước sinh tại bộ môn Y sinh học - Di truyền Đại học Y Hà Nội

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.1

Tác giả: Trần Thị Thanh Hương

PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU CHÍNH CỦA BỘ MÔN Từ nhu cầu thực tiễn và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phương hướng nghiên cứu chính của bộ môn gồm: - Ứng dụng các kỹ thuật di truyền tế bào, di truyền phân tử xác định các bệnh tật di truyền. Trên cơ sở đó triển khai ở cộng đồng để xác định mô hình bệnh tật di truyền ở Việt Nam. - Tư vấn di truyền – Sàng lọc và chẩn đoán trước sinh - Đề xuất các biện pháp can thiệp để hạn chế sinh con dị tật. - Đánh giá tác động của một số hoá chất, dược liệu lên vật chất di truyền (nhiễm sắc thể, ADN). Tư vấn di truyền – sàng lọc và chẩn đoán trước sinh là một nội dung nghiên cứu lớn của bộ môn. TƯ VẤN DI TRUYỀN – SÀNG LỌC VÀ CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH TẠI BỘ MÔN Y SINH HỌC – DI TRUYỀN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI (2002 - 2007) Trước năm 2005 bộ môn chủ yếu trả lời xét nghiệm theo yêu cầu bác sĩ kết hợp các bác sĩ lâm sàng (chủ yếu chuyên ngành Sản, Nhi) tư vấn di truyền. Từ 2005 – nay bộ môn đã xây dựng quy trình tư vấn di truyền cho các đối tượng.

Xem chi tiết

Nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân của phụ nữ kết hôn năm 2010 - 2012 tại thị trấn Sóc Sơn và xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 4

Tác giả: Tạ Thị Kim Ngân, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Trần Thơ Nhị

Tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân là một công việc hết sức quan trọng đối với những cặp vợ chồng sắp kết hôn. Nghiên cứu nhằm mô tả nhu cầu và mong muốn về dịch vụ tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân của phụ nữ mới kết hôn năm 2010 - 2012. Phương pháp nghiên cứu: kết hợp nghiên cứu định lượng (nghiên cứu mô tả cắt ngang) và nghiên cứu định tính. Kết quả cho thấy, nhu cầu được tư vấn sức khỏe trước kết khi hôn của phụ nữ trong nghiên cứu này là rất cao (92,2%) với mong muốn được tư vấn tại các cơ sở y tế gần nhà, ngoài giờ hành chính bởi các nhân viên y tế có kỹ năng tư vấn, kinh nghiệm về cuộc sống gia đình và chuyên môn tốt. Nhu cầu tư vấn về nội dung khá đa dạng và liên quan đến biện pháp tránh thai, sức khỏe sinh sản, cuộc sống tình dục vợ chồng và chăm sóc con cái. Việc tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân hiện nay chưa phổ biến với những phụ nữ hiện đang sinh sống ở thị trấn Sóc Sơn và xã Phù Linh và các dịch vụ hiện có chưa đáp ứng nhu cầu của họ về cả số lượng, chất lượng và hình thức cung cấp dịch vụ.

Xem chi tiết

Áp dụng phương pháp phân tích lớp ẩn đánh giá mức độ sử dụng chất của bệnh nhân phòng khám ngoại trú và tư vấn xét nghiệm HIV tại Hà Nội năm 2014

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Minh Sang, Trần Khánh Toàn, Lê Minh Giang

ASSIST trên bệnh nhân phòng khám ngoại trú và tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện tại Hà Nội, năm 2014. Áp dụng phân tích lớp ẩn (Latent Class analysis) để phân nhóm sử dụng đa chất của quần thể nghiên cứu. Nam giới gồm 3 nhóm: nhóm sử dụng ít hoặc không sử dụng; nhóm sử dụng trung bình và nhóm sử dụng đa chất (10,2%). Nữ giới gồm 2 nhóm: nhóm sử dụng ít hoặc không sử dụng và nhóm sử dụng đa chất (16,2%). Nhóm sử dụng đa chất là những bệnh nhân cần quan tâm đặc biệt bởi họ đồng thời có mức độ nguy cơ từ trung bình trở lên với nhiều chất khác nhau. Do đó, có thể thấy được mức độ ảnh hưởng của rối loạn sử dụng đa chất lên hiệu quả điều trị HIV ở nhóm bệnh nhân này. Lồng ghép phát hiện sớm và điều trị rối loạn nghiện chất sẽ làm tăng cường sự tham gia của bệnh nhân và nâng cao hiệu quả trong điều trị HIV.

Xem chi tiết

Sự khác biệt giới tính về phát triển tâm lý – vận động và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi tại Hải Dương năm 2009

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Đỗ Huy, Trần Quang Bình, Nguyễn Thị Hồng Hà

Nghiên cứu nhằm so sánh sự khác biệt theo giới ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi về sự phát triển tâm lý vận động và tình trạng dinh dưỡng ở vùng nông thôn và thành thị, tỉnh Hải Dương năm 2009. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang chọn có chủ định toàn bộ 492 cặp đối tượng người mẹ và con có tuổi từ 1 đến 3 tại 1 xã nông thôn và 1 phường thành phố để đánh giá sự phát triển tâm lý - vận động bằng test Denver II và phân loại tình trạng dinh dưỡng theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Kết qua cho thấy: Tỷ lệ nghi ngờ chậm phát triển tâm lý vận động cao hơn ở nhóm trẻ gái so với trẻ trai ở khu vực vận động thô và vận động tinh tế, và cao hơn ở ở nông thôn so với thành thị ở khu vực phát triển vận động thô và phát triển cá nhân xã hội (p < 0,05). Không có sự khác biệt về giới ở cả ba thể suy dinh dưỡng: nhẹ cân, thấp còi và gầy còm (p > 0,05).

Xem chi tiết