Kỹ Thuật Chụp X-Quang (KTV CĐHA)

Chủ biên: PGS. TS. Phạm Minh Thông

Nhà xuất bản: BV Bạch Mai, NXB Y Học

Lời nói đầu

Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, ngành Điện quang được thừa hưởng các tiến bộ đó, các trang thiết bị trong các khoa Điện quang trước đâv chỉ có X-quang thì giờ đâv đã có thêm siêu âm, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ và X-quang mạch máu. Từ kỹ thuật analogue thì ngàv nav tất cả các máv móc trong khoa Điện quang đều dùng kỹ thuật số (digital).

Xem chi tiết

Sản xuất kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Anh, Nguyễn Vĩnh Đông, Ngô Châu Giang, Nguyễn Tuyết Thu, Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang có ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán và nghiên cứu virus dại, do vậy việc nghiên cứu sản xuất để đáp ứng nhu cầu sử dụng ở trong nước là hết sức cần thiết. Mục tiêu: nghiên cứu sản xuất cộng hợp kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang (FITC); Ứng dụng cộng hợp sản xuất thử nghiệm để chuẩn độ hiệu giá virus dại. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: cộng hợp được chế tạo theo phương pháp của Ed Harlow, David Lane 1998, sử dụng nền tế bào và các virus sởi, quai bị, rubella, virus dại để đánh giá chất lượng của cộng hợp. Phương pháp chuẩn độ hiệu giá virus dại trên chuột được sử dụng để đánh giá hiệu quả của cộng hợp trong việc chuẩn độ hiệu giá virus dại trên tế bào thông qua test – T và Leven. Kết quả: cộng hợp sản xuất thử nghiệm có hiệu giá 1/80, ổn định ở 40C trong 30 tháng, đặc hiệu với virus dại và không có FITC dư thừa; hiệu giá của 116 loạt virus dại chuẩn độ bằng phương pháp trên tế bào sử dụng cộng hợp sản xuất thử nghiệm cho kết quả tương đương với chuẩn độ hiệu giá trên chuột với p > 0,05.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2011

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 4

Tác giả: Đào Thị Hồng Huệ, Lê Hồng Phượng, Lê Thị Hương, Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 382 trẻ dưới 5 tuổi và bà mẹ của trẻ tại xã Xuân Quang, huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang năm 2011 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể thấp còi cao nhất là 22,8% trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm đến 6%, tiếp đến là suy dinh dưỡng thể thiếu cân (18,1%) và thấp nhất là suy dinh dưỡng thể gày còm, chiếm 14,1%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng xuất hiện sớm và có khuynh hướng tăng lên theo nhóm tuổi ở cả ba thể suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi và gày còm, cao nhất ở nhóm 36 - 47 tháng tuổi. Có mối liên quan giữa tình trạng thiếu gạo ăn của gia đình với suy dinh dưỡng thể thấp còi. Bà mẹ có kiến thức sai về chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ, cho ăn bổ sung và thực hành chăm sóc trẻ chưa đúng làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi.

Xem chi tiết

Dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của trẻ 24 - 59 tháng tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2012

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 4

Tác giả: Lê Hồng Phượng, Lê Thị Hương, Vũ Hồng Cương, Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 237 trẻ từ 24 - 59 tháng tuổi tại xã Xuân Quang, huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang năm 2012 nhằm giá tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của trẻ. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng chung trong nghiên cứu cao nhất là thể thấp còi (29,8%), tiếp theo là thể thiếu cân (24,9%) và thể còm (9,3%). Suy dinh dưỡng ở cả 3 thể thiếu cân, thấp còi và còm tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ từ 48 - 59 tháng tuổi, tuy nhiên lại phân bố khá đồng đều theo giới. Số bữa chính trung bình của trẻ khoảng 3 bữa/ngày, số bữa phụ là 2,4 bữa. Khẩu phần ăn trung bình của trẻ hầu hết không đáp ứng được nhu cầu khuyến nghị về mức năng lượng, lipid, carbohydrat, vitamin A, sắt, canxi. Khẩu phần ăn của cả 3 nhóm trẻ 24 - 35, 36 - 4 7, 48 - 59 tháng tuổi đều đạt nhu cầu khuyến nghị về lượng protein. Tỷ lệ các chất sinh năng lượng trong khẩu phần là Protein/lipid/carbohydrat (P: L: C) = 16,7: 20,1: 63,2, tương đối phù hợp với nhóm tuổi này.

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của trẻ 24-59 tháng tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Thị Hương, Lê Hồng Phượng, Nguyễn Thùy Linh, Đoàn Thị Thu Huyền, Vũ Hồng Cương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 196 trẻ từ 24 - 59 tháng tuổi bao gồm đo lường số đo nhân trắc cho trẻ, thu thập thông tin về khẩu phần của trẻ thông qua phỏng vấn 90 bà mẹ và thảo luận nhóm nhằm thu thập thông tin về những thực phẩm sẵn có ở địa phương. Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 29,1% (CC/T), thể thiếu cân là 24,5% (CN/T) và thể gày còm là 14,3% (CN/CC). Khẩu phần ăn trung bình của trẻ 24 - 35 tháng đáp ứng được theo nhu cầu khuyến nghị (NCKN) về mức protein và năng lượng. Khẩu phần ăn của trẻ 36 - 59 tháng không đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng theo NCKN, sắt trong khẩu phần ăn của trẻ 36 - 47 tháng chỉ đạt 6,9mg/ngày thấp hơn NCKN. Hàm lượng canxi trong khẩu phần ăn của trẻ đạt 67 - 86% NCKN. Lượng lipid trong khẩu phần không đạt NCKN. Các thực phẩm sẵn có ở địa phương đều có thể cung cấp đủ 4 nhóm thực phẩm: Glucid, Protid, Lipid, vitamin và chất khoáng.

Xem chi tiết