Tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của trẻ 24-59 tháng tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Thị Hương, Lê Hồng Phượng, Nguyễn Thùy Linh, Đoàn Thị Thu Huyền, Vũ Hồng Cương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 196 trẻ từ 24 - 59 tháng tuổi bao gồm đo lường số đo nhân trắc cho trẻ, thu thập thông tin về khẩu phần của trẻ thông qua phỏng vấn 90 bà mẹ và thảo luận nhóm nhằm thu thập thông tin về những thực phẩm sẵn có ở địa phương. Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 29,1% (CC/T), thể thiếu cân là 24,5% (CN/T) và thể gày còm là 14,3% (CN/CC). Khẩu phần ăn trung bình của trẻ 24 - 35 tháng đáp ứng được theo nhu cầu khuyến nghị (NCKN) về mức protein và năng lượng. Khẩu phần ăn của trẻ 36 - 59 tháng không đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng theo NCKN, sắt trong khẩu phần ăn của trẻ 36 - 47 tháng chỉ đạt 6,9mg/ngày thấp hơn NCKN. Hàm lượng canxi trong khẩu phần ăn của trẻ đạt 67 - 86% NCKN. Lượng lipid trong khẩu phần không đạt NCKN. Các thực phẩm sẵn có ở địa phương đều có thể cung cấp đủ 4 nhóm thực phẩm: Glucid, Protid, Lipid, vitamin và chất khoáng.

Xem chi tiết

Sản xuất kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Anh, Nguyễn Vĩnh Đông, Ngô Châu Giang, Nguyễn Tuyết Thu, Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang có ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán và nghiên cứu virus dại, do vậy việc nghiên cứu sản xuất để đáp ứng nhu cầu sử dụng ở trong nước là hết sức cần thiết. Mục tiêu: nghiên cứu sản xuất cộng hợp kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang (FITC); Ứng dụng cộng hợp sản xuất thử nghiệm để chuẩn độ hiệu giá virus dại. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: cộng hợp được chế tạo theo phương pháp của Ed Harlow, David Lane 1998, sử dụng nền tế bào và các virus sởi, quai bị, rubella, virus dại để đánh giá chất lượng của cộng hợp. Phương pháp chuẩn độ hiệu giá virus dại trên chuột được sử dụng để đánh giá hiệu quả của cộng hợp trong việc chuẩn độ hiệu giá virus dại trên tế bào thông qua test – T và Leven. Kết quả: cộng hợp sản xuất thử nghiệm có hiệu giá 1/80, ổn định ở 40C trong 30 tháng, đặc hiệu với virus dại và không có FITC dư thừa; hiệu giá của 116 loạt virus dại chuẩn độ bằng phương pháp trên tế bào sử dụng cộng hợp sản xuất thử nghiệm cho kết quả tương đương với chuẩn độ hiệu giá trên chuột với p > 0,05.

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới hai tuổi vùng dân tộc thiểu số tại huyện Darkrong tỉnh Quảng Trị

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Thị Hương, Lưu Ngọc Hoạt

Suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên nghiên cứu sâuvề suy dinh dưỡng trên đối tượng trẻ em người dân tộc thiểu số còn rất hiếm. Mục tiêu: đánh giá tìnhtrạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 2 tuổi vùng đồng bào dân tộc thiểu sốhuyện Darkrong, tỉnh Quảng Trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu mô tả cắtngang với cỡ mẫu 391 trẻ dưới 2 tuổi và các bà mẹ. Kết quả: tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thiếu cân là35,2% (CN/T), còi cọc là 41,9% (CC/T) và gày còm là 12,8% (CN/CC). Suy dinh dưỡng thể nhẹ (độ 1) làloại suy dinh dưỡng chính trong quần thể điều tra. Trẻ suy dinh dưỡng nặng và rất nặng chiếm 10,6%(CN/T). Tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng nửa giờ đầu sau khi sinh là 80,1%. Tỷ lệ trẻ được búmẹ hoàn toàn đến 6 tháng là 15,7%. Trong số trẻ đã được ăn bổ sung có 63 % trẻ được cho ăn bổ sungsớm trước 4 tháng tuổi. Có 41,3% và 56,6% trẻ bị tiêu chảy hoặc viêm đường hô hấp trong hai tuần vừaqua. Kết luận: suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao ở tất cả các thể. Có mối liên quan giữa suy dinh dưỡngvới trình độ học vấn của mẹ, và cân nặng sơ sinh thấp.

Xem chi tiết