Ảnh hưởng của Hải mã và Hải mã-nhân sâm lên cấu trúc hình thái tinh hoàn chuột cống trắng

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 1

Tác giả: Đậu Xuân Cảnh, Trịnh Bình, Phạm Thị Minh Đức

Cho chuột cống trắng đực, uống Hải mã và Hải mã-Nhân sâm với các liều khác nhau. Sau 2 tuần uống thuốc, quan sát cấu trúc vi thể tinh hoàn chuột, các tác giả nhận thấy: - Hải mã và Hải mã+Nhân sâm không làm thay đổi cấu trúc bình thường của biểu mô tinh và tuyến kẻ tinh hoàn. - Đường kính trung bình của các ống sinh tinh của tất cả các nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt có ý nghĩa và đều lớn hơn so với ở chuột nhóm chứng không uống Hải mã và Hải mã+Nhân sâm. - Tỷ lệ các ống sinh tinh có biểu hiện hoàn thành quá trình sinh tinh ở tinh hoàn các nhóm nghiên cứu đều tăng có ý nghĩa so với ở chuột nhóm chứng không uống Hải mã và Hải mã+Nhân sâm.

Xem chi tiết

Nghiên cứu bào chế chế phẩm trà tan “thảo sâm đông đô” dùng cho cộng đồng

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Hoàng Minh Chung

Nghiên cứu bào chế trà tan “thảo sâm đông đô” từ thảo dược để phục vụ cộng đồng. mục tiêu: (1) chuẩn hóa qui trình bào chế, tiêu chuẩn hóa; (2) xác định thử tác dụng dược lý của chế phẩm. đối tượng và phương pháp: trà tan “thảo sâm đông đô” được bào chế từ dịch chiết men bia, đẳng sâm và cam thảo. phương pháp chế biến, bào chế thuốc cốm tan (trà tan); hplc; quang phổ hấp thụ nguyên tử và thử tác dụng tăng dưỡng trên chuột cống trắng sdd. kết quả: đã xác định qui trình bào chế chuẩn, tiêu chuẩn chế phẩm với các chỉ tiêu định tính và định lượng. đã xác định hàm lượng saponin, 21 acid amin và 7 nguyên tố vi lượng dạng tự nhiên trong đó có fe, ca, zn, se, mg, cu và mn trong trà tan. trà tan “thảo sâm đông đô” có tác dụng làm tăng cân nặng, hồng cầu, hb, protein so với lô chứng suy dinh dưỡng với p < 0,05 so với lô đối chiếu chỉ có cân nặng khác với p > 0,05. kết luận: trà tan “thảo sâm đông đô” chuẩn có tác dụng cải thiện tình trạng dinh dưỡng trên thực nghiệm.

Xem chi tiết

Hiệu quả đầu tư trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ y tế tại 15 đơn vị trực thuộc Bộ Y tế giai đoạn 1996-2004

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Phạm Thị Thanh Tân, Nguyễn Văn Tường

Trang thiết bị y tế (TTBYT) là phương tiện để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo, chẩn đoán, điều trị và dự phòng. Mục tiêu: Đánh giá thực trạng và hiệu quả đầu tư trang thiết bị y tế phục vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) giai đoạn 1996 - 2004. Đối tượng và phương pháp: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, phân tích tài liệu, phỏng vấn theo bộ câu hỏi, thảo luận nhóm và điều tra quan sát tại 15 đơn vị trực thuộc Bộ Y tế. Kết quả: (1). Thực trạng: Chỉ có 4% kinh phí mua sắm trang thiết bị y tế từ nguồn Sự nghiệp khoa học (SNKH). Các trang thiết bị y tế được mua sắm hoạt động tốt chiếm 95,8%, tỷ lệ thiết bị bị hỏng, thiếu kinh phí vận hành và không có nhu cầu sử dụng còn chiếm 4,2%; 80% đơn vị có mạng máy tính nội bộ. (2). Hiệu quả: Đã và đang triển khai 334 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và Nhà nước, góp phần đào tạo cho ngành y tế 419 học viên sau đại học, công bố 927 bài báo, rút ngắn thời gian điều trị từ 7,1ngày (1997) xuống còn 6,72 ngày (2003), đẩy lùi nhiều vụ dịch nguy hiểm. Kết luận: (1). Kinh phí mua sắm trang thiết bị từ nguồn SNKH quá ít. (2). Đầu tư trang thiết bị y tế bước đầu đã đưa lại hiệu quả trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, chẩn đoán, điều trị và dự phòng

Xem chi tiết