Sử dụng phương pháp rt - pcr bán định lượng xác định mức độ sao chép của hip ở mô ung thư biểu mô tuyến giáp

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phan Thị Minh Phương, Trần Vân Khánh, Trần Thị Chính, Tạ Thành Văn

Heparan sulfate interacting protein (HIP) gắn ái lực với heparin và Heparansulfate (HP/HS) được tăng cường sao chép và biểu hiện ở các dòng tế bào và mô ung thư. Sự tăng cường tổng hợp này phụ thuộc vào giai đoạn phát triển và biệt hóa của khối u. Mục tiêu: sử dụng kỹ thuật RT - PCR bán định lượng (Semi quantitative Reverse Transcript - Polymerase Chain Reaction) để đánh giá mức độ sao chép HIP ở mô ung thư biểu mô tuyến giáp so sánh với mô giáp lành tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 48 mẫu mô bệnh phẩm trong đó 32 mẫu mô ung thư biểu mô tuyến giáp, 16 mẫu mô giáp lành tính được chẩn đoán xác định bằng kết quả mô bệnh học. Các mẫu mô này được tách chiết RNA tổng số, tổng hợp cDNA và đánh giá mức độ sao chép của HIP. Kết quả: Mức độ sao chép của HIP tăng rõ ở mô ung thư biểu mô tuyến giáp, đặc biệt tăng trong ung thư biểu mô thể tuỷ, ngược lại không có sự tăng cường sao chép ở mô u giáp lành tính. Kết luận: sự tăng cường sao chép cao của HIP liên quan mật thiết với ung thư biểu mô tuyến giáp và HIP có thể sử dụng như một marker có giá trị góp phần chẩn đoán loại hình bệnh lý này.

Xem chi tiết

Sự sao chép heparansulfate interacting protein ở mô ung thư đại trực tràng, polyp và mô ruột bình thường

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trịnh Quốc Đạt, Nguyễn Thu Thuý, Trần Vân Khánh, Tạ Thành Văn

Ung thư đại trực tràng là bệnh có thể điều trị hiệu quả nếu được phát hiện sớm và chẩn đoán kịp thời. Một số nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng, Heparansulfate interacting protein (HIP) được tăng cường tổng hợp ở một số dòng tế bào ung thư ở cả mức độ mRNA và protein, đặc biệt mức độ biểu hiện của nó phụ thuộc vào mức độ ác tính của các dòng tế bào này. Mục tiêu: Đánh giá mức độ sao chép của HIP ở mô ung thư đại trực tràng, mô lành tính và mô polyp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tách chiết RNA tổng số từ 74 mẫu mô (gồm: 48 mẫu mô ung thư, 6 mẫu mô polyp và 20 mẫu mô lành); tổng hợp cDNA; phương pháp PCR bán định lượng đánh giá mức độ sao chép. Kết quả: HIP được tăng cường sao chép rất rõ ở mô ung thư, đặc biệt sự tăng cường sao chép của HIP cũng được biểu hiện tương đối rõ ở mô polyp. Điều đó gợi ý cho chúng ta thấy sự tăng cường sao chép của HIP ở mô polyp có thể là dấu hiệu báo trước của tiền ung thư đại trực tràng. Kết luận: Mức độ sao chép của HIP ở mô ung thư, mô polyp và mô lành tính khác biệt nhau một cách rõ rệt. HIP có thể được coi như một marker có giá trị để chẩn đoán sớm bệnh ung thư đại trực tràng.

Xem chi tiết

Sao chép gen activation induced cytidine deaminase (AID) ở mô ung thư dạ dày

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Thị Thúy, Trần Vân Khánh, Tạ Thành Văn

Activation Induced cytidine Deaminase (AID), thành viên của gia đình APOBEC (apolipoprotein B mRNA - editing enzyme catalytic polypeptid), là gen then chốt quy định tính đa dạng kháng thể thông qua hai quá trình siêu đột biến (somatic hypermutation) và tái tổ hợp gen kháng thể (class switch recombination). Trong mô viêm, mô ung thư dạ dày và mô ung thư gan có sự tăng cường sao chép bất thường của AID. Mục tiêu: (1) So sánh mức độ sao chép của AID trên mô viêm và mô ung thư dạ dày, (2) So sánh mức độ sao chép của AID của mô ung thư dạ dày nhiễm Helicobacter pylori (HP) và không nhiễm HP. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 30 mẫu mô ung thư dạ dày và 04 mẫu mô viêm dạ dày. Tổng hợp cDNA bằng kỹ thuật RT - PCR, đánh giá mức độ sao chép của gen AID bằng kỹ thuật realtime PCR và phương pháp 2 -ΔΔct của Livak. Kết quả: Mức độ sao chép gen AID/ actin ở mô ung thư dạ dày so với mô bình thường là 6,5 ± 2,9 và ở mô viêm dạ dày so với mô các mô viêm là 0,7 ± 0,04 (p < 0,05). Trong khi đó mức độ sao chép gen AID/ß actin ở mô ung thư dạ dày nhiễm HP là 10,2 ± 6,5 và không nhiễm HP là 2,2 ± 1,5. Kết luận: Mức độ sao chép của gen AID trên mô ung thư dạ dày tăng rõ rệt so với mô viêm dạ dày. AID tăng sao chép một cách có ý nghĩa ở mô ung thư dạ dày nhiễm HP so với mô ung thư dạ dày không nhiễm HP.

Xem chi tiết

TĂNG CƯỜNG SAO CHÉP HEPARANSULFATE INTERACTING PROTEIN (HIP) Ở MÔ UNG THƯ VÚ

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 1

Tác giả: Đặng Thị Tuyết Minh, Trần Vân Khánh, Nguyễn Thị Hà, Tạ Thành Văn

Heparansulfate Interacting Protein (HIP) thuộc nhóm protein liên kết với heparin và heparansulfate (HP/ HS). HIP đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, phân chia, biệt hoá và nhận biết của tế bào. HIP được phát hiện ở một số dòng tế bào nội mạc biểu mô và ở một số dòng tế bào ung thư ở cả mức độ mRNA và protein. Đặc biệt, mức độ biểu hiện của HIP liên quan chặt chẽ tới giai đoạn phát triển, tình trạng biệt hóa và mức độ ác tính của từng dòng tế bào. Mục tiêu: Đánh giá mức độ sao chép mRNA của HIP ở mô ung thư vú so với mô u xơ; so sánh mức độ sao chép của HIP ở các giai đoạn ung thư khác nhau và các thể loai tế bào học khác nhau. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tách chiết RNA tổng số từ 62 mẫu mô (47 mẫu mô ung thư vú và 15 mô u xơ); tổng hợp cDNA bằng kỹ thuật sao chép ngược (reverse transcript - polymerase chain reaction/RT - PCR); đánh giá mức độ sao chép của mRNA HIP bằng kỹ thuật RT - PCR bán định lượng. Kết quả: Sự sao chép của HIP tăng rõ ở mô ung thư vú so với mô u xơ và mức độ sao chép này còn phụ thuộc vào các giai đoạn và ở các thể loại tế bào học khác nhau của ung thư vú. Kết luận: Kết quả này chỉ ra rằng, mức độ sao chép mRNA của HIP khác biệt nhau một cách rõ rệt giữa mô ung thư và u xơ vú và phụ thuộc vào giai đoạn phát triển, mức độ ác tính của từng dòng tế bào ung thư; HIP có thể được sử dụng như một marker có giá trị góp phần chẩn đoán loại hình ung thư này.

Xem chi tiết

Sự sao chép heparansulphat interacting protein (hip) ở mô ung thư vú

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 5

Tác giả: Phan Tôn Hoàng, Tạ Thành Văn

Heparansulfat Interacting Protein (HIP) được tổng hợp với nhiều mức độ khác nhau ở các dòng tế bào và mô đặc biệt ở dòng tế bào ung thư. Điều đó cho phép chúng tôi đưa ra giả thiết: HIP được tăng cường tổng hợp ở cả mức độ mRNA và protein tại mô ung thư vú. Mục tiêu: Thiết kế mồi HIP và đánh giá mức độ sao chép (mRNA) của HIP ở mô ung thư vú đối chiếu kết quả của các phương pháp xét nghiệm cận lâm sàng khác. Phương pháp: Tách chiết RNA tổng số, tổng hợp cDNA và khuếch đại gen mã hóa HIP sử dụng mồi đặc hiệu. Kết quả: Mồi HIP đã khuếch đại đặc hiệu gen mã hóa HIP. mRNA của HIP được sao chép với một lượng đáng kể trong mô ung thư vú trong khi không phát hiện được ở mô u xơ. Kết quả xét nghiệm sinh học phân tử này tương ứng với các kết quả xét nghiệm XQ và tế bào học. Kết luận: Mồi HIP do chúng tôi thiết kế đã khuếch đại thành công gen mã hóa HIP và sự sao chép mRNA của HIP được tăng cường trong mô ung thư vú.

Xem chi tiết

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ SAO CHÉP mRNA CỦA EGFR Ở MÔ UNG THƯ TUYẾN VÚ

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 6

Tác giả: Đặng Thị Tuyết Minh, Trần Vân Khánh, Trần Thị Chính, Tạ Thành Văn

Thụ thể yếu tố phát triển biểu mô (Epiderman Growth Factor Receptor - EGFR) là một glycoprotein bề mặt màng tế bào, nơi tiếp nhận các kích thích ngoại bào thông qua hoạt tính tyrosin kinase. EGFR được phát hiện ở các dòng tế bào biểu mô và liên quan đến bệnh sinh của nhiều loại ung thư khác nhau. Mục tiêu: đánh giá mức độ sao chép mRNA của EGFR ở mô u xơ so với mô ung thư biểu mô tuyến vú ở các giai đoạn và các thể loại tế bào học khác nhau. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 62 mẫu bệnh phẩm trong đó có 47 mẫu mô ung thư biểu mô tuyến vú, 15 mẫu u xơ được chẩn đoán xác định bằng mô bệnh học. Các mẫu mô này được tách chiết RNA tổng số, tổng hợp cDNA và đánh giá mức độ sao chép của EGFR. Kết quả và kết luận: sự sao chép của HIP tăng rõ ở mô ung thư vú so với mô u xơ, mức độ sao chép này phụ thuộc vào giai đoạn phát triển và thể loại tế bào học của ung thư biểu mô tuyến vú.

Xem chi tiết

ứng dụng phương pháp pcr bán định lượng và định lượng xác định mức độ sao chép của heparansulphat interacting protein (hip) ở mô ung thư

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 3

Tác giả: trần vân khánh, tạ thành văn

phương pháp pcr bán định lượng và định lượng là những phương pháp đơn giản, chính xác và cho độ tin cậy tương đối cao được sử dụng rất rộng rãi để xác định mức độ biểu hiện của mỗi gen được khuyếch đại sau mỗi phản ứng pcr. mục tiêu: sử dụng phương pháp pcr bán định lượng và định lượng để đánh giá mức độ sao chép của heparansulphat interacting protein (hip) ở mô ung thư so với mô lành tính; so sánh kết quả của 2 phương pháp trên. phương pháp: tách triết mrna tổng số từ mô ung thư và lành tính; tổng hợp cdna; xác định mức độ sao chép của hip sử dụng phương pháp pcr bán định lượng và định lượng. kết quả: cả phương pháp này đều cho kết quả tương tự như nhau; hip được tăng cường sao chép rất rõ ở những mô ung thư trong khi đó phát hiện được rất thấp trên mẫu lành tính. kết luận: mức độ biểu hiện của hip ở mô ung thư và mô lành tính khác biệt nhau một cách rõ rệt. chúng ta có thể dùng một trong hai phương pháp pcr bán định lượng và định lượng trên để đánh giá mức độ sao chép của hip trong chẩn đoán bệnh ung thư. từ khóa: hip/l29, cancer, transcript

Xem chi tiết