Xác định nồng độ Homocysteine huyết tương trên bệnh nhân có hội chứng sa sút trí tuệ

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn

51 người không mắc chứng sa sút trí tuệ và 41 bệnh nhân sa sút trí tuệ được xét nghiệm trong nghiên cứu của chúng tôi. Nồng độ homocystein huyết thanh được xác định bởi kỹ thuật miễn dịch hoá phát quang trực tiếp (CMIA). Các xét nghiệm khác được thực hiện theo quy trình chuẩn thông thường. Nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân sa sút trí tuệ là 11,78 ± 4,31µmol/L tăng cao hơn so với nhóm không sa sút trí tuệ (7,34 ± 2,10µmol/L)., có sự khác biệt với p < 0,05. Nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân sa sút trí tuệ tương quan với nồng độ glucose huyết với r = 0; p < 0,01. Sự tăng nồng độ homocystein huyết là nguy cơ của sa sút trí tuệ.

Xem chi tiết

đặc điểm cộng hưởng từ khớp cổ tay trong bệnh viêm khớp dạng thấp

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 3

Tác giả: lê thị hải hà, nguyễn thị ngọc lan

mục tiêu: mô tả đặc điểm cộng hưởng từ khớp cổ tay trong bệnh viêm khớp dạng thấp. đối tượng và phương pháp: 41 bệnh nhân chẩn đoán theo tiêu chuẩn acr 1987, từ tháng 01 - tháng 10 - 2006; nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang. kết quả: tổn thương trên cht theo tiêu chuẩn ramris 2002: 100% viêm mhd (5,9 ± 2,20); 100% có bào mòn xương (15,3 ± 11,06); và 90% có phù xương (7,3 ± 5,86); tổng điểm: 28,6 ± 16, 58. hệ số tương quan giữa điểm viêm mhd và phù xương: r = 0,43, p < 0,01; giữa điểm viêm mhd và bào mòn xương: r= 0,61; p < 0,01; giữa điểm bào mòn xương và phù xương: r = 0,55; p < 0,01. cht phát hiện bào mòn xương ở 100% bệnh nhân mắc bệnh dưới 6 tháng so với 0% trên x-quang. sau 2 năm mắc bệnh, tỉ lệ này là 100% so với 87,5%. kết luận: cht phát hiện được các tổn thương đặc hiệu ở khớp cổ tay có giá trị chẩn đoán sớm bệnh viêm khớp dạng thấp. từ khoá: cộng hưởng từ khớp cổ tay, bệnh viêm khớp dạng thấp

Xem chi tiết

Đánh giá chức năng thất phải bằng chỉ số TEL trên siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân hẹp khít van hai lá

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Lân Việt, Nguyễn Thị Bạch Yến

Chỉ số chức năng cơ tim (MPI) – còn gọi là chỉ số Tei (chỉ số đo trên siêu âm Doppler tim: tỷ lệ giữa tổng thời gian giãn đồng thể tích và thời gian co đồng thể tích chia cho thời gian tống máu) là một thông số cho phép đánh giá khá chính xác chức năng toàn bộ của tâm thất (c chức năng tâm thu và chức năng tâm trương). Mục tiêu: ứng dụng chỉ số Tei trong đánh giá chức năng toàn bộ thất phải ở bệnh nhân HHL khít và tìm hiểu mối tương quan giữa chỉ số Tei với các thông số khác trên siêu âm và trên thông tim. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: siêu âm Doppler tim được thực hiện trên 30 người bình thường và 50 bệnh nhân HHL khít . Sử dụng chỉ số Tei thất phải (đo trên phổ siêu âm Doppler qua van Ba lá và van ĐMP) để đánh giá chức năng toàn bộ thất phải. Kết quả và Kết luận: ở bệnh nhân HHL khít, chỉ số Tei thất phải cao hơn rõ rệt so với người bình thường (0,47 ± 0,02 so với 0,19 ± 0,04, p = 0,001); Chỉ số Tei thất phải có tương quan chặt chẽ với áp lực tâm thu thất phải (r = 0,8 ; p < 0,001), với áp lực tâm thu, áp lực tâm trương, áp lực trung bình ĐMP (với r lần lượt là 0,61; 0,47; 0,46 và p < 0,001). Chỉ số Tei tương quan yếu với diện tích lỗ van hai lá (r = - 0, 33; p = 0,01).

Xem chi tiết

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân sa sút trí tuệ

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Thị Thủy, Vũ Thị Thanh Huyền

Nghiên cứu nhằm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm: nhóm bệnh: 60 bệnh nhân sa sút trí tuệ được chẩn đoán theo tiêu chuẩn DSM - IV - TR; nhóm chứng: 60 bệnh nhân. Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được khám lâm sàng, làm các trắc nghiệm thần kinh tâm lý cần thiết và định lượng insulin. Kết quả cho thấy nguy cơ mắc sa sút trí tuệ ở các bệnh nhân có kháng insulin, BMI ≥ 23, rối loạn lipid cao hơn các bệnh nhân không kháng insulin (OR = 2,25, 95% CI: 1,05 - 4,84), BMI < 23 (OR = 3,22, 95%CI: 1,52 - 6,79) và không có rối loạn lipid (OR = 2,62, 95%CI: 1,24 - 5,49). Có mối tương quan thuận giữa chỉ số HOMA - IR với chỉ số vòng bụng, cholesterol toàn phần và LDL - C (r > 0; p < 0,05). Có mối liên quan chặt giữa tăng triglyceride, giảm HDL - C, tăng LDL - C và bệnh sa sút trí tuệ (p < 0,05). Tóm lại, kháng insulin và rối loạn lipid và làm tăng nguy cơ mắc sa sút trí tuệ do vậy khảo sát sự biến đổi nồng độ của các chỉ số này rất có giá trị trong việc chẩn đoán sớm sa sút trí tuệ và theo dõi tiến triển bệnh.

Xem chi tiết

Đáp ứng giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD%) tại động mạch cánh tay bằng phương pháp siêu âm ở người trưởng thành bình thường

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Hà Thị Thuỷ, Phạm Thắng

Mục tiêu:(1) Đánh giá một số khía cạnh kỹ thuật của phương pháp đo đáp ứng giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD%) bằng siêu âm động mạch cánh tay, (2) Đánh giá đáp ứng giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD%) ở người trưởng thành bình thường. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 150 người tình nguyện khoẻ mạnh được đo đáp ứng giãn mạch qua trung gian dòng chảy (FMD%) theo kỹ thuật chuẩn: đặt băng đo huyết áp ở cẳng tay, ngay dưới nếp khuỷu. Đo đường kính động mạch cánh tay (D1) trên nhát cắt dọc, khoảng 5 - 10 cm trên chỗ đặt băng đo HA. Đánh dấu vị trí đo. Bơm băng đo HA lên 250 mmHg, giữ trong 5 phút (phương pháp 1), hoặc trong 2 phút kết hợp với nghiệm pháp nắm mở bàn tay (phương pháp 2), sau đó xả hơi nhanh, đo lại đường kính động mạch cánh tay, ghi lại chỗ giãn nhất (D2). Tính FMD % =[(D2 - D1)/D1]x100. Kết quả: (1) Đánh giá khía cạnh kỹ thuật: Kỹ thuật Garo 2 phút kết hợp nắm mở bàn tay cho kết quả cao hơn kỹ thuật garo 5 phút đơn thuần, ở cả ba thời điểm đo, sau 1, 2, 3 phút, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Trong cả hai kỹ thuật FMD% có giá trị cao nhất tại thời điểm 1 phút sau xả hơi. Chỉ số lập lại với kỹ thuật garo 2 phút kết hợp nắm mở bàn tay có giá trị thấp nhất là 0, cao nhất là 13,6%. (2) Đánh giá FMD% ở người bình thường : FMD% trung bình ở người bình thường là 11,8 ± 5,0. Không có sự khác biệt giữa nam (11,7 ± 4,9) và nữ 11,8 ± 5,1), p > 0,05. FMD% giảm rõ rệt theo tuổi, p < 0,001. Có mối tương quan tuyến tính giữa FMD% và tuổi (y = 20,88 – 0,160 x tuổi), r = - 0,71; p < 0,001. Có mối tương quan tuyến tính giữa FMD% với đường kính động mạch cánh tay cơ sở (y = 27,25 – 34,04 x đường kính động mạch),r = - 0,48; p < 0,001. Kết luận: (1) Phương pháp đo đáp ứng giãn mạch sử dụng kỹ thuật garo 2 phút kết hợp nắm mở bàn tay cho kết quả cao hơn kỹ thuật garo 5 phút đơn thuần. FMD% có giá trị cao nhất tại thời điểm 1 phút sau xả hơi (2) FMD% trung bình ở người bình thường là 11,8 ± 5,0. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Có mối tương quan tuyến tính giữa FMD% và tuổi cũng như đường kính động mạch cánh tay cơ sở.

Xem chi tiết