Phân Tích Dữ Liệu Với R

Chủ biên: GS. TS. Nguyễn Văn Tuấn

Nhà xuất bản: NXB Tổng Hợp TPHCM

Năm xuất bản: 2014

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Cuốn sách bạn đang cầm trên tay là một nổ lực nhằm giới thiệu các phương pháp phân tích mô hình và thống kê phổ biến. các phương pháp gồm mô hình hồi qui tuyết tính, hồi qui logistic, phân tích tổng hợp (meta – anlysis), mô hình phân tích sống còn (survival anlysis), phương pháp phân tích chuỗi dữ liệu theo thời gian (time series data) phương pháp bayes, phương pháp bootstrap, v.v.. Với một nội dung khá rộng như thế, cuốn sách này sẽ giúp ích cho các nhà nghiên cứu, giảng viên cao đẳng và đại học, sinh viên, hay bất cứ ai muốn học về thống kê và phương pháp phân tích dữ liệu.

Xem chi tiết

Tìm hiểu R-plasmid ở một số chủng Salmonella typhi phân lập tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Đắc Trung, Lê Văn Phủng, Lê Huy Chính

Các chủng Salmonella typhi đa đề kháng hiện đã lan tràn tới hầu hết các vùng trong cả nước. Nghiên cứu đã dùng 90 chủng Salmonella typhi phân lập từ Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu về các plasmid của chúng. Kết quả cho thấy: Đã tìm thấy hai plasmid 120 Kb và 102 Kb ở các chủng kể trên, plasmid 120 Kb có 2 copy. Plasmid 120 Kb là một R-plasmid lớn, có khả năng tự truyền cho chủng khác và mang ít nhất 5 gene kháng kháng sinh: chloramphenicol, tetracycline, ampicillin, trimethoprim và sulphamethoxazole. Phân tích bằng enzyme hạn chế EcoR I cho thấy, các R-plasmid từ các chủng Salmonella phân lập ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh đều giống nhau.

Xem chi tiết

Ứng dụng các test không xâm nhập - fibroscan, tiểu cầu, tỷ lệ ast/alt, apri, fib4 đánh giá tình trạng xơ hóa gan

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 3

Tác giả: Đào Nguyên Khải, Trần Ngọc Ánh

Nghiên cứu nhằm xác định vai trò của FibroScan (FS), tiểu cầu (TC), tỷ lệ AST/ALT, APRI, FIB4 trong đánh giá xơ hóa gan. 59 bệnh nhân bệnh gan mạn (50 viêm gan mạn, 9 xơ gan) có sinh thiết gan được đưa vào nghiên cứu từ 1/2007 đến 1/2008. Đánh giá mức độ xơ hóa theo Metavir: xơ hóa có ý nghĩa - F2,3, xơ gan - F4. AUROC của từng chỉ số được thiết lập. Nghiên cứu chúng tôi có 32,2% - F0, 27,11% - F1, 20,33% - F2; 22,03% - F3; 15,25% F4. Có mối liên quan chặt chẽ giữa mức độ xơ hóa với FS (r = 0,608) và TC (r = - 0,408), APRI (r = 0,55), FIB4 (r = 0,36). AUROC của FS cao hơn các xét nghiệm khác trong đánh giá xơ hóa > F2 và xơ gan - F4. Ở các bệnh nhân có bệnh gan mạn tính, chẩn đoán xơ hóa > F2 của FS, AST/ALT, TC, APRI, FIB4 với Se 76,92; 46,5; 51%; Sp 92,11; 74,3; 53,1%; chẩn đoán xơ gan với Se 100; 72,6; 65,3%; Sp 55,6; 43,2; 42,2%. Các thăm dò không xâm nhập có giá trị đánh giá mức độ xơ hóa tuy nhiên FibroScan là xét nghiệm được ưu tiên khi đánh giá xơ hóa gan.

Xem chi tiết

Liên quan giữa điểm tuyển sinh với kết quả học tập của sinh viên trong chương trình đào tạo bác sỹ đa khoa - Đại học Y Hà Nội, khóa 2004 - 2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Phạm Trí Hiếu , Nguyễn Thùy Linh, Đỗ Thị Hường, Nguyễn Hoàng Giang Bùi Mỹ Hạnh, Nguyễn Hữu Tú, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương

Xác định mối liên quan giữa các điểm tuyển sinh đầu vào với kết quả trong quá trình học tập của sinh viên y đa khoa. Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm trung bình của 3 môn thi đầu vào, những sinh viên nam có điểm đầu vào môn toán cao hơn so với sinh viên nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Điểm trung bình tất cả các nhóm môn học của sinh viên nữ đều cao hơn đáng kể so với sinh viên nam (p < 0,001), của nhóm từ 24 tuổi trở xuống cao hơn so với nhóm sinh viên 24 tuổi có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Không có mối liên quan giữa điểm 3 môn thi đầu vào với nhóm các môn nội - ngoại - sản - nhi; y xã hội học và y tế công cộng. Có mối liên quan dương giữa điểm môn toán (hệ số tương quan R = 0,32, p = 0,004) và môn hóa (R = 0,42, p = 0,000) với các môn cơ sở khối ngành, môn sinh với các môn y học cơ sở (R = 0,25, p = 0,03), có mối tương quan âm giữa môn sinh với các môn chuyên khoa lẻ (p < 0,01; R = - 0,36).

Xem chi tiết

Nồng độ cortisol, cortison trong sữa và nước bọt ở phụ nữ nuôi con nhỏ

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng

Khảo sát một số hóc môn thuộc nhóm steroids ở phụ nữ nuôi con nhỏ với mục tiêu: (1) Phân tích cortisol, cortisone trong sữa và nước bọt của phụ nữ trong thời kỳ cho con bú; (2) Xác định mối tương quan giữa cortisol, corticone và tỷ lệ cortisol /cortisone trong sữa và nước bọt của các bà mẹ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 60 bà mẹ tuổi từ 20 - 40 có con nhỏ 6 - 10 tháng tuổi: mỗi bà mẹ được lấy 2 ml sữa và 2ml nước bọt và được bảo quản lạnh để định lượng hormon bằng sắc ký lỏng khối phổ cao áp tại Labo ASKA Pharma Medical Co. Ltd – Nhật Bản. Kết quả: hàm lượng hormone trong nước bọt và sữa mẹ (n = 60): Trong nước bọt: Cortisol: ; C o r t i s o n : ; Trong sữa mẹ: Cortisol: ; Cortison: . Mối tương quan cortisol trong nước bọt và sữa mẹ với r = 0,88 (rất chặt chẽ) và cortison là r = 0,46 (chặt chẽ). Mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ giữa cortisol và cortisone trong nước bọt và trong sữa mẹ (r = 0,53). X ± SD = 2853,5 ± 2297 X ± SD = 13961± 7176 ± SD = 3487 ± 3529 X ± SD = 8673 ± 2988

Xem chi tiết