Phân tích chi phí của tai N¹N thương tích tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì, Hà Tây

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Dương Thuý Anh

Mục tiêu: Mô tả và phân tích chi phí của những trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) được điều trị tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì trong năm 2002. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp TNTT được chữa trị tại các cơ sở y tế công từ 01/01/2002 đến 31/12/2002. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi do các bác sĩ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân ngay khi họ ra viện và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Kết quả: Tổng chi phí của các bệnh nhân TNTT năm 2002 là 498000314 đồng. Chi phí trực tiếp chiếm 78%, chi phí gián tiếp chiếm 22%. Chi phí bình quân cho một trường hợp TNTT là 207.000 đồng, tương đương với thu nhập trung bình 1 tháng của dân huyện Ba vì tại thời điểm nghiên cứu để chi trả cho chi phí này. Kết luận: Thương tích đã gây ra một gánh nặng về kinh tế cho người bị TNTT.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu chi phí chương trình tiêm chủng mở rộng tại tỉnh Thái Nguyên, 2009

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Hoàng Ngọc Anh, Hoàng Văn Minh, Nguyễn Thị Xuân Trang, Nguyễn Mạnh Cường

Nghiên cứu nhằm xác định tổng chi phí năm và chi phí đơn vị cho chương trình tiêm chủng mở rộng tại Thái Nguyên năm 2009 và phân tích cơ cấu tổng chi phí năm và chi phí đơn vị cho chương trình tiêm chủng mở rộng tại Thái Nguyên năm 2009. Kết quả ước tính tổng chi phí năm cho chương trình tiêm chủng mở rộng tại Thái Nguyên vào năm 2009 là 8.993.860.728 đồng. Chi phí trung bình cho một liều vắc xin bất kỳ là 12.600 đồng, chi phí trung bình cho mỗi trẻ được tiêm chủng đầy đủ mũi là 86.580 đồng. Chi phí thường xuyên là 8.471.737.708 đồng , trong đó chi phí nhân công, chi phí cho các hoạt động chuẩn bị (truyền thông, đào tạo, lập kế hoạch...) và chi phí cho vắc xin và vật tư tiêu hao lần lượt là 3.832.496.0 đồng, 1.666.165.000 đồng và 976.807.708 đồng. Chi phí trung bình cho mỗi trẻ được tiêm chủng đầy đủ tại Thái Nguyên vẫn còn thấp so với mức chi phí hiệu quả cho chương trình tiêm chủng mở rộng ở các nước đang phát triển.

Xem chi tiết

Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan b mạn tính bằng phân tích đơn biến và phân tích đa biến

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 2

Tác giả: Bùi Xuân Trường

Mục tiêu: đánh giá một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B (HBV) mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 174 bệnh nhân. Xét nghiệm huyết thanh học dấu ấn HBV, nồng độ alpha - fetoprotein bằng ELISA, nồng độ HBV - DNA xác định bằng real - time PCR. Phân loại kiểu gen của HBV bằng PCR - RFLP hoặc ELISA. Đột biến gen của HBV xác định bằng giải trình tự gen. Các thuật toán phân tích đơn biến và đa biến tương quan hồi qui được áp dụng để xử lý số liệu. Kết quả: phân tích đơn biến cho thấy các yếu tố giới tính nam, nồng độ alpha - fetoprotein ≥ 20 ng/ml, nồng độ HBV - DNA ≥ 5,0 logcopies/ml, kiểu gen C của HBV, đột biến bộ đôi T1762A1764 và C/A1753, là các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính. Phân tích đa biến cho thấy nồng độ alpha - fetoprotein ≥ 20 ng/ml, nồng độ HBV - DNA ≥ 5,0 logcopies/ml, kiểu gen C của HBV và đột biến bộ đôi T1762A1764 là những yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê. Kết luận: nghiên cứu đã góp phần đánh giá một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tác dụng của cốm tan “Tiêu phì linh” trong điều trị hội chứng rối loạn lipid máu nguyên phát

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hà Thị Thanh Hương, Nguyễn Nhược Kim, Nguyễn Thị Vân Anh

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả điều trị của cốm tan “Tiêu phì linh” trên bệnh nhân có rối loạn lipid máu nguyên phát và hai thể hàn đàm và nhiệt đàm theo phân thể lâm sàng y học cổ truyền và đánh giá tác dụng không mong muốn của cốm tan “Tiêu phì linh” trên lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả cho thấy bệnh nhân đạt hiệu quả khá và tốt chung cho cả hai nhóm là 92,86%. Với từng thể: thể hàn đàm có kết quả khá và tốt chiếm 88,58%, tỷ lệ này ở nhóm nhiệt đàm là 91,43%. Sau 30 ngày (D30) và 60 ngày (D60) uống cốm Tiêu phì linh, nồng độ cholesterol toàn phần và Triglycerid, LDL - C máu đều giảm và HDL - C tăng có ý nghĩa với p < 0,05 ở cả hai nhóm. Trong quá trình nghiên cứu không thấy tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng. Cốm tan Tiêu phì linh có hiệu quả tốt và an toàn trên bệnh nhân rối loạn lipid máu nguyên phát cả hai thể hàn đàm và nhiệt đàm.

Xem chi tiết

Hiệu quả bổ sung chất xơ polydextrose đến tình trạng thừa cân - béo phì, tăng lipid máu ở Sĩ Quan quân đội tại Hà Nội

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Lâm, Nguyễn Phương Hoa

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả cải thiện tình trạng thừa cân - béo phì và tăng lipid máu bằng bổ sung chất xơ Polydextrose. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng trên 108 sĩ quan, nhóm can thiệp sử dụng 20g sản phẩm Vi - tan1 (20g Polydextrose)/ngày, nhóm đối chứng dùng viên giả dược trong 4 tháng. Kết quả: Cân nặng trung bình của cả hai nhóm đều giảm so với ban đầu, nhóm can thiệp giảm hơn so với nhóm chứng (p < 0,05). Chỉ số BMI, vòng eo, vòng mông, % mỡ cơ thể của đối tượng thuộc hai nhóm đều giảm so với trước can thiệp, nhóm can thiệp giảm nhiều hơn. Nồng độ cholesterol, triglycerid, LDL - C ở nhóm can thiệp giảm so với ban đầu và so với nhóm chứng (p < 0,05) và nồng độ HDL - C tăng (p < 0,05). Độ mềm của phân cũng được cải thiện và làm tăng độ dễ dàng khi đi đại tiện của các đối tượng ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng (p < 0,01). Kết luận: Bổ sung 20g Polydextrose/ngày đã cải thiện được các chỉ số nhân trắc, sinh hóa máu và độ mềm của phân.

Xem chi tiết

Tình trạng thừa cân-béo phì ở trẻ 4-6 tuổi tại quận Ba Đình - Hà Nội và một số yếu tố liên quan

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 3

Tác giả: Trần Thị Phúc Nguyệt

Để góp phần đưa ra các giải pháp can thiệp thừa cân béo phì có hiệu quả tác giả đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang mô tả 352 trẻ 4-6 tuổi tại quận Ba Đình, Hà Nội để xác định tỷ lệ TCBP và tìm hiểu một số yếu tố nguy cơ gây thừa cân béo phì ở trẻ . Tỷ lệ thừa cân là 7,1%, béo phì là 3,9%, trẻ nam mắc thừa cân cao hơn trẻ nữ (10,5% và 3,0%). Những trẻ có nguy cơ cao thừa cân béo phì là những trẻ có tần xuất sử dụng thực phẩm 3-5 lần trong 1 tuần (đường, nước ngọt), trên 5 lần/1tuần (bánh keo, thịt các loại) và những thức ăn chế biến bằng phương pháp xào rán. Thực hành đánh giá sai tình trạng dinh dưỡng của trẻ đôi với các bà mẹ là nguy cơ gây cao thừa cân và béo phì ở trẻ (p < 0,01).

Xem chi tiết

Nghiên cứu so sánh các yếu tố nguy cơ ở trẻ thừa cân và béo phì với trẻ có tình trạng dinh dưỡng bình thường từ 6-11 tuổi

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6

Tác giả: Phạm Duy Tường, Hoàng Thị Minh Thu

Nghiên cứu so sánh các yếu tố nguy cơ bằng một nghiên cứu Case-Cotrol với 72 trẻ thừa cân và béo phì với 144 trẻ bình thường trong mẫu 1053 trẻ từ 6-11 tuổi, tại quận Cầu Giấu Hà Nội cho thấy: Trẻ thừa cân và béo phì thường háu ăn, ăn nhiều bữa, hay ăn tối và uống nước ngọt, ăn bánh kẹo nhiều hơn trẻ nhóm đối chứng. Năng lượng khẩu phần của trẻ thừa cân, béo phì có năng lượng và protein khẩu phần cao hơn hẳn so với nhu cầu khuyến nghị và nhóm chứng từ 400-600Kcal. Protein khẩu phần cũng cao hơn nhóm chứng và vượt so với nhu cầu khuyến nghị và nhóm đối chứng từ 15-20g. Trẻ TC, BP có mức độ và thời gian hoạt động thể lực ít hơn trẻ bình thường. Trẻ TC, BP ngủ trưa nhiều, ngủ đêm ít, thời gian hoạt động tĩnh và xem tivi, chơi điện tử nhiều hơn trẻ bình thường. Yếu tố gia đình bố mẹ anh chị em ruột bị thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng trẻ bị thừa cân với tỷ suất chênh cao (OR: 6-12)

Xem chi tiết