Nghiên cứu thực nghiệm tác dụng điều trị rối loạn lipid máu của flavonoid chiết xuất từ hoa kim ngân

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4

Tác giả: Vũ Thị Ngọc Thanh

Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh vữa xơ động mạch.. Việc tìm kiếm các thuốc từ nguồn gốc thảo dược để điều trị rối loạn lipid máu đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Mục tiêu: đánh giá tác dụng điều trị rối loạn lipid máu của flavonoid chiết xuất từ hoa kim ngân trên chuột cống trắng. Phương pháp: Gây rối loạn lipid máu trên chuột cống bằng uống cholesterol trong 6 tuần. Flavonoid hoa kim ngân với 2 liều 0,90g/kg và 0,45g/kg, uống trong 2 tuần sau khi đã gây tăng cholesterol máu. Xác định nồng độ cholesterol toàn phần(TC), triglycerid (TG), HDL –C, LDL - C trong huyết tương sau 6 tuần uống cholesterol và sau 8 tuần (6 tuần uống cholesterol và 2 tuần uống flavonoid hoa kim ngân). Kết quả: Flavonoid toàn phần chiết xuất từ hoa kim ngân liều 0,9g/kg và 0,45g/kg có tác dụng làm giảm các chỉ số TG,TC, LDL - C và tăng HDL - C trong huyết tương chuột cống trắng. Tác dụng điều trị rối loạn lipid máu của flavonoid hoa kim ngân ở 2 liều 0,9g/kg và 0,45g/kg là tương đương nhau. Kết luận: Flavonoid toàn phần chiết xuất từ hoa kim ngân có tác dụng điều trị rối loạn lipid máu ở chuột cống trắng.

Xem chi tiết

Một trường hợp dị vật kim trong lệ đạo

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Phạm Ngọc Đông

Một cháu bé 1,5 tháng tuổi được chấn đoán tắc ống lệ mũi bẩm sinh. Trẻ được thông lệ đạo, sau khi thông thì kim gẫy trong ống lệ mũi. Sau 5 ngày theo dõi, kim theo phân, tự thoát ra ngoài thông qua đường tiêu hóa. Chụp phim lại thì không còn thấy kim trong lệ đạo. Việc thông lệ đạo sớm là không cần thiết và còn làm khó khăn trong việc xử trí biến chứng. Các hình thái tắc lệ đạo bẩm sinh, chỉ định thông lệ đạo, tuổi thông lệ đạo cũng được đề cập và bàn luận.

Xem chi tiết

Điều trị biến dạng khuỷu vẹo vào trong với kỹ thuật đục xương sửa trục có sử dụng định vị góc bằng kim Kirchner

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 03

Tác giả: Trần Trung Dũng

Nghiên cứu nhằm mô tả tổn thương biến dạng vẹo trong và xoay trong của khuỷu ở bệnh nhân biến dạng khuỷu vẹo vào trong và đánh giá kết quả điều trị vẹo khuỷu vào trong với kỹ thuật đục xương sửa trục có sử dụng định vị góc bằng kim Kirchner. Nghiên cứu tiến cứu mô tả 24 bệnh nhân vẹo khuỷu vào trong. Các bệnh nhân được phẫu thuật sửa chữa vẹo khuỷu với kỹ thuật đục xương sửa trục có định vị góc bằng kim Kirchner. Kết quả nghiên cứu cho thấy góc vẹo trong trung bình là 24,8 ± 5,6. Góc xoay trong trung bình là 21,4 ± 6,7. Kết quả sau mổ theo phân loại của Ippolito là tốt 83,4%, khá 8,3% và kém 8,3%. Phẫu thuật đục xương sửa trục với kỹ thuật định vị góc bằng kim Kirchner cho kết quả tốt.

Xem chi tiết

Thực trạng tử vong tại huyện Kim Bảng - tỉnh Hà N

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Ngọc Hùng

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 (5,2‰) tăng 1,22 lần so với năm 2002 (4,52‰). Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm 0 – 4 tuổi và > 70 tuổi trong cả ba năm đều cao hơn các nhóm khác. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 3,26 – 4,03/103; TNNĐ: 0,53 – 0,58/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,73 – 0,58/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (99,95 đến 160,72 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (86,66 – 149,59 năm/ 103 người).

Xem chi tiết

Một số nhận xét trên 50 trẻ khó khăn vận động có chỉ định nẹp chỉnh hình huyện Kim Sơn

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Đăng Hồng, Hà Văn Như, Nguyễn Thị Minh Thuỷ, Trần Trọng Hải

Các nghiên cứu về trẻ em và người lớn khuyết tật vận động đã được một vài tác giả đề cập đến nhưng rất ít tác giả đề cập đến trẻ cần nẹp chỉnh hình mặc dù nhu cầu này ở trẻ khó khăn vận động là rất lớn. Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ trẻ có nhu cầu nẹp chỉnh hình huyện Kim Sơn. (2) Mô tả Phân bố tuổi, nguyên nhân và loại nẹp ở trẻ khuyết tật vận động có nhu cầu nẹp chỉnh hình. Phương pháp: Mô tả cắt ngang trên 50 trẻ có nhu cầu nẹp chỉnh hình trong tổng số 283 trẻ khó khăn vận động. Kết quả: Tỷ lệ trẻ khuyết tật vận động có chỉ định nẹp chỉnh hình là 17,6%, trong đó 88% là trẻ trên 6 tuổi và 58% là trẻ bại não. 80% trẻ được chỉ định nẹp chi dưới trong đó 74% là nẹp cổ bàn chân và 14% là nẹp bàn chân. Kết luận: Khoảng 1/6 trẻ khuyết tật vận động huyện Kim Sơn có nhu cầu nẹp chỉnh hình. Trong số này, đại đa số trẻ là trẻ bại não và nhu cầu này xuất hiện khi trẻ trên 6 tuổi. Phần lớn nẹp được chỉ định là nẹp dưới gối.

Xem chi tiết

Khả năng kháng khuẩn của dung dịch “HL” trên invitro

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Hoàng Minh Chung, Tạ Văn Bình và cộng sự

Dung dịch “HL” được bào chế từ cam thảo, đại thanh diệp, hoàng cầm, kim ngân hoa, kinh giới, ngưu bang tử, tế tân, xạ cam và mentol và đã được nghiên cứu qui trình bào chế, tiêu chuẩn, độc tính và một số tác dụng dược lý. Nghiên cứu này nhằm: Xác định khả năng kháng khuẩn của chế phẩm “HL”. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thuốc HL ở các nồng độ nguyên và pha loãng 1/2; 1/4; 1/8 và 1/16 có tác dụng đối với 3 chủng vi khuẩn chuẩn là: S. aureus ATCC; P aeruginosa ATCC; E. coli ATCC và 5 chủng vi khuẩn phân lập từ bệnh nhân là: S. aureus; P aeruginosa; E. coli, S. pneumoniae và S. Pyogenes. Dung dịch “HL” có tác dụng kháng khuẩn.

Xem chi tiết

Sự bộc lộ của P63 và CD10 với SMA trong ung thư biểu mô ống tại chỗ và xâm nhập của vú

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Bùi Thị Mỹ Hạnh

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy CD10 và p63 được bộc lộ trong các tế bào cơ biểu mô (CBM) của vú và có thể được sử dụng để phân biệt các ung thư biểu mô vú tại chỗ và xâm nhập. Mụ tiêu: khảo sát sự bộc lộ của SMA, CD10, p63 trong các ung thư biểu mô ống (UTBMO) tại chỗ và xâm nhập, đánh giá khả năng của CD10 và p63 so với SMA trong chẩn đoán phân biệt các UTBMO tại cho và xâm nhập của vú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các khối nến bệnh phẩm của 26 UTBMO tại chỗ và 35 UTBMO xâm nhập đã được nhuộm miễn dịch với SMA, CD10 và p63. Tính chất bộc lộ đa được đánh giá theo các mức 0 đến 3+.Tính chất phân bố của tế bào CBM theo hai mức: liên tục hoặ từng phần. Kết quả: Trong UTBMO tại chỗ, các tế bào CBM đã được phát hiện ở 23/26 (88%) cá trường hợp (TH) khi nhuộm SMA so với 18/26 (69%) nhuộm CD10 và 25/26 (96%) nhuộm p63; Nhuộm liên tục quanh các cấu trúc ống ở 10/26 (38%) các TH nhuộm SMA so với 1/26 (4%) nhuộm CD10 va không gặp khi nhuộm p63; Cường độ nhuộm mạnh 3+ gặp trong 9/23 (39%) các TH nhuộm dương tính với SMA, so với 3/18 (17%) và 5/25 (20%) các TH nhuộm dương tính với CD10 và p63. Ngược lại, UT BMO xâm nhập đã không phát hiện thấy các tế bào CBM khi nhuộm CD10. Các nguyên bào xơ và te bào cơ trơn thành mạch đều nhuộm SMA (100%), CD10 chỉ nhuộm các nguyên bào xơ (31/61;51%) p63 không nhuộm mô đệm. Kết luận: p63 là một dấu ấn có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn để pha hiện các tế bào CBM giúp phân biệt các UTBMO tại chỗ và xâm nhập.

Xem chi tiết