Nghiên cứu tình hình chăm sóc sức khoẻ trẻ em dưới 5 tuổi ở một số xã vùng nông thôn

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Luyến, Trương Việt Dũng

Nghiên cứu được tiến hành tại 28 xã trên 7 vùng sinh thái, 1457 bà mẹ có con dưới 5 tuổi được phỏng vấn trực tiếp. Cùng với việc sử dụng kỹ thuật vẽ biểu đồ bao phủ của Bộ Y tế/UNICEF để phân tích hoạt động TCMR và theo dõi biểu đồ tăng trưởng của y tế cơ sở (trạm y tế xã); các tác giả đi đến kết luận rằng: - Các chỉ tiêu đầu ra chủ yếu của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trẻ em ưu tiên cho thấy còn rất nhiều khiếm khuyết trong truyền thông GDSK về kiến thức chăm sóc trẻ lành cũng như trẻ ốm. Trình độ văn hoá thấp của bà mẹ cản trở sự tiếp nhận kiến thức nuôi con, ở vùng núi mức độ khiếm khuyết lớn hơn. - Cán bộ y tế cơ sở chưa chú ý đúng mức đến việc truyền thông GDSK cho bà mẹ cũng như tới chất lượng dịch vụ.

Xem chi tiết

Kỹ thuật y tế trường học

Chủ biên: Đặng Anh Ngọc

Nhà xuất bản: NXB Y Học

Năm xuất bản: 2012

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Cuốn tài liệu “Nội dung và một số kỹ thuật cơ bản Y tế trường học” được sử dụng cho chương trình đào tạo liên tục trong 2 tuần, nội dung gồm có 5 phần và phần phụ lục hướng dẫn các bước cơ bản trong sơ cứu ban đầu cho học sinh tại trường học.

Xem chi tiết

Tình trạng ô nhiễm vi khuẩn ở môi trường tại một số xã ngoại thành hà nội

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Tuyến, Đào Ngọc Phong, Nguyễn Văn Huy, Lưu Ngọc Hoạt

Mục tiêu: nghiên cứu đánh giá thực trạng ô nhiễm vi khuẩn ở môi trường: đất, nước, không khí tại 4 xã ngoại thành Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang 120 mẫu không khí, 163 mẫu đất, 147 mẫu nước sinh hoat và 14 mẫu nước tưới rau được xác định các vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh để đánh giá mức độ ô nhiễm vi khuẩn. Kết quả: mức độ ô nhiễm vi khuẩn tan máu là trầm trọng nhất: Dương Nội không có mẫu nào đạt tiêu chuẩn, Phú Thịnh chỉ có 5% đạt tiêu chuẩn. Số mẫu đất đạt tiêu chuẩn về vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh tại thị trấn Trúc Sơn, xã Đức Giang và xã Phú Thịnh là: 74,33 - 95%, trừ xã Dương Nội chỉ 7,8% đạt tiêu chuẩn. 100% số mẫu nước giếng đào tại 4 xã nghiên cứu không đạt tiêu chuẩn về coliform và chỉ 33,33% đạt tiêu chuẩn về fecalcoliform. Các loại nước khác tỷ lệ đạt tiêu chuẩn là: nước giếng khoan 32,43%, nước mưa 38,88% nước máy 91,67%, tại các hộ mở quán ăn là 22,72%, lò mổ 17,64%, chế biến thực phẩm chín 31,25%. Kết luận: tình hình ô nhiễm vi sinh vật môi trường không khí tại 2 xã là rất nghiêm trọng, đặc biệt tại xã Dương Nội. Phần lớn các mẫu đất tại các xã nghiên cứu đều đạt tiêu chuẩn, trừ xã Dương Nội đất bị ô nhiễm nặng. Mức độ ô nhiễm cao nhất là nước giếng đào, sau đó là giếng khoan và nước mưa.Tỷ lệ các mẫu nước đạt tiêu chuẩn tại các hộ có dịch vụ rất thấp.

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi dân tộc thái tại huyện Quan Sơn, Thanh Hóa trong 5 năm 2007 – 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trịnh Xuân Thủy, Phạm Văn Phú, Phạm Tùng Sơn

Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xu hướng thay đỗi tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) của trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Thái ở huyện Quan Sơn - Thanh Hóa trong 5 năm 2007 - 2011. Kết quả cho thấy tình trạng dinh dưỡng tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 26,1%. SDD tăng dần theo độ tuổi từ18% ở năm tuổi thứ nhất và cao nhất ở nhóm tuổi 48 - 59 tháng (30,9%). SDD thể thấp còi trong 3 năm 2009-2010 là 53,4%; cao nhất vào năm tuổi thứ 3 (57,5%). Trong 5 năm 2007 - 2011: SDD thể nhẹ cân năm 2008 so với 2007 không những không giảm mà còn có xu hướng tăng, thể SDD này giảm nhiều vào năm 2009 nhưng sau đó lại có xu hướng tăng trở lại vào các năm 2010 và 2011. SDD thể thấp CÒI từ năm 2009 đến năm 2011 cũng có xu hướng tăng dần.

Xem chi tiết

Thực trạng hoạt động y tế trường học tại các trường phổ thông Việt Nam

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Chu Văn Thăng, Lê Thị Thanh Xuân, Đặng Ngọc Lan

Nghiên cứu được tiến hành tại 3 vùng (thành thị, đồng bằng và miền núi) tại 3 tỉnh đại diện cho 3 vùng miền của cả nước (Phú Thọ, Quảng Bình và Đồng Nai). Mục tiêu: mô tả thực trạng hoạt động về y tế trường học tại các trường phổ thông ở Việt Nam năm 2008. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: áp dụng nghiên cứu cắt ngang (định tính và định lượng) để phỏng vấn 355 các cán bộ y tế học đường của trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông trong 9 huyện thuộc 3 tỉnh (Phú Thọ, Quảng Bình, Đồng Nai) của 3 miền (Bắc, Trung, Nam) và cho 3 vùng (miền núi, đồng bằng và thành thị). Toàn bộ báo cáo, số liệu sổ sách về hoạt động YTTH từ năm 2001 - 2006 tại các trường phổ thông điều tra cũng được thu thập. Kết quả: hoạt động mà cán bộ Y tế trường học (YTTH) đã và đang thực hiện không nhiều, chiếm tỷ lệ từ 13,2% đến 71,6% tổng số cán bộ YTTH đã tham gia nghiên cứu. Ba hoạt động được cán bộ YTTH lựa chọn nhiều nhất là sơ cấp cứu (71,6%), giáo dục sức khỏe cho học sinh (51,8%) và khám sức khỏe định kỳ (47,6%). Đặc biệt có rất ít cán bộ YTTH tham gia hoạt động phòng chống cong vẹo cột sống và phòng chống cận thị học đường (chỉ có 13,2% và 19,7%). Nhìn chung các hoạt động YTTH được thực hiện nhiều hơn ở khu vực thành thị và đồng bằng so với khu vực miền núi (p < 0,05). Hoạt động mà nhiều cán bộ YTTH không có khả năng thực hiện nhiều nhất là khám và phát hiện các bệnh trường học (cong vẹo cột sống, cận thị). Hoạt động có tỷ lệ % cán bộ YTTH không có khả năng thực hiện thấp nhất là lập hồ sơ theo dõi sức khỏe học sinh (11,2% tổng số điều tra). Kết luận: các hoạt động YTTH đã và đang thực hiện tại trường phổ thông là sơ cấp cứu, giáo dục sức khỏe cho học sinh và khám sức khỏe định kỳ. Rất ít cán bộ YTTH tham gia thực hiện hoạt động phòng chống cong vẹo cột sống và phòng chống cận thị học đường. Hầu hết cán bộ YTTH không có khả năng thực hiện các hoạt động YTTH, đặc biệt là các hoạt động về khám và phát hiện các bệnh trường học.

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam năm 2012 và một số yếu tố liên quan

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 02

Tác giả: Lê Thị Hương, Hoàng Thị Hồng Nhung, Trần Thị Giáng Hương, Nguyễn Thùy Linh, Lê Hồng Phượng

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 360 trẻ dưới 5 tuổi và các bà mẹ của trẻ ở phường Trần Hưng Đạo, Phủ Lý, Hà Nam nhằm mục tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xác đinh một số yếu tố liên quan vớ tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (WAZ), thấp còi (HAZ), gầy còm (WHZ) lần lượt là 4,4%; 7,5% và 7,2%, tỷ lệ thừa cân béo phì là 12,2%. Các yếu tố học vấn, nghề nghiệp của người mẹ, số con trong gia đình có mối liên quan với tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Bên cạnh đó còn có mối liên quan giữa theo dõi cân nặng của trẻ và các bà mẹ được hướng dẫn cách nuôi con với tình trạng dinh dưỡng của trẻ.

Xem chi tiết

So sánh hiệu quả co hồi tử cung và tác dụng không mong muốn của oxytocin liều bolus 5 IU và 10 IU trong mổ lấy thai

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Quốc Anh

Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên nhằm so sánh hiệu quả co hồi tử cung và tác dụng không mong muốn của hai liều bolus oxytocin 5 và 10 IU trong mổ lấy thai dưới gây tê tủy sống. Các sản phụ được chia ngẫu nhiên nhận 5 IU (nhóm I, n = 60) hoặc 10 IU (nhóm II, n = 60) oxytocin, sau đó là truyền 40 IU/4 giờ. Chất lượng co hồi tử cung, mất máu ước tính, nhu cầu bổ sung oxytocin và truyền máu, thay đổi huyết động và các tác dụng không mong muốn được ghi nhận. Kết quả cho thấy, đặc điểm liên quan đến sản phụ, sơ sinh và gây mê ở hai nhóm tương đương nhau (p > 0,05). Không có khác biệt ý nghĩa về tỉ lệ co hồi tử cung (trên 90%), mất máu ước tính, thay đổi công thức máu, nhu cầu bổ xung oxytocin và truyền máu giữa hai nhóm (p > 0,05). Ở mỗi nhóm huyết áp trung bình giảm và tần số tim tăng rõ ở các phút 1,2,3 sau bolus oxytocin (p < 0,05). Khác biệt giữa hai nhóm về các chỉ số này chỉ ở phút thứ nhất. Tỉ lệ nôn và buồn nôn, chóng mặt, bốc hỏa ở nhóm I và II tương ứng là; 5%, 6,7%, 10% và 11,7%, 15%, 18,3% (p < 0,05). Không có khác biệt về hiệu quả co hồi tử cung giữa liều bolus 5 và 10 IU oxytocin trong mổ lấy thai có chuẩn bị, trong khi thay đổi về huyết động và các tác dụng không mong muốn ít gặp hơn khi dùng liều 5 IU.

Xem chi tiết

Phong cách học tập trong sinh viên trường Đại học Y Hà Nội và một số yếu tố liên quan

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Nguyễn Thị Lan Hương, Nguyễn Hoàng Long, Phùng Lâm Tới, Dương Thị Phượng, Kim Bảo Giang, Lê Thị Tài, Nguyễn Văn Hiến

Hiểu biết về phong cách học tập của sinh viên giúp cơ sở đào tạo có những định hướng về hoạt động cần thiết để điều chỉnh phong cách học tập của sinh viên cho phù hợp với môi trường giáo dục và yêu cầu nghề nghiệp của ngành đào tạo. Nghiên cứu nhằm mô tả phong cách học tập và phân tích mối liên quan giữa một số yếu tố với phong cách học tập của sinh viên. Kết quả cho thấy phong cách học tập chiếm ưu thế là điều chỉnh (39,0%) và phân kỳ (34,8%), tiếp đến là đồng hóa (16,4%) và hội tụ (9,8%). Tỷ lệ sinh viên có phong cách học tập hội tụ ở nhóm sinh viên có học lực khá trở lên cao hơn có ỷ nghĩa thống kê so với nhóm kém hơn. Từ đó có thể thấy, với đặc trưng phong cách học tập điều chỉnh và phân kỳ chiếm ưu thế, sinh viên Đại học Y Hà Nội cần được định hướng để phát triển phong cách học tập hội tụ, phù hợp với thực tế nghề nghiệp của ngành Y.

Xem chi tiết