Các yếu tố PH, Lưu lượng độ nhớt của nước bọt và sâu răng ở trẻ 11-12 tuổi tại trường trung học cơ sở Mỹ Khánh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Khưu Thanh Mai, Lê Thị Lợi

Nước bọt được xem là có vai trò quan trọng đối với sức khỏe răng miệng. Mục tiêu: tìm ra mối liên quan giữa tình trạng sâu răng và các yếu tố nước bọt: pH, lưu lượng, độ nhớt bằng bộ test nước bọt Saliva check – Buffer của hãng Global Care (GC). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 142 học sinh lứa tuổi 11 - 12 (70 nam và 72 nữ), khỏe mạnh và không có khiếm khuyết ở răng. Khám lâm sàng để xác định số răng sâu, răng mất, răng trám (SMT - R). Các đối tượng được thu thập nước bọt cả khi không có kích thích và có kích thích để xác định pH, lưu lượng, độ nhớt. Kết quả và bàn luận: tình hình sâu răng và đặc tính nước bọt: pH, lưu lượng, độ nhớt ở trẻ 11 - 12 tuổi. Kết quả cho thấy 83,8% trẻ có sâu răng, nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam (p = 0,03), 50% trẻ có 1 ≤ SMT - R ≤ 3; 25,4% trẻ có 4 ≤ SMT - R ≤ 6, trung bình SMT - R = 2,89 với trung bình răng sâu = 2,82 (răng cối lớn thứ nhất: 68,33%, răng tiền cối thứ hai: 9,48%, răng tiền cối thứ nhất: 7,98%). Lưu lượng nước bọt khi có kích thích trung bình là 0,86 ml/phút, pH kích thích trung bình là 7,55. Ở nữ lưu lượng và pH nước bọt khi có kích thích thấp hơn ở nam (p = 0,008; p = 0,025). Phân tích các yếu tố nước bọt: pH, lưu lượng, độ nhớt với tình trạng sâu răng ở trẻ. Trung bình SMT-R tăng dần theo mức độ nguy cơ của các yếu tố nước bọt: khả năng tiết của tuyến nước bọt phụ khi không kích thích (p = 0,035), lưu lượng nước bọt kích thích (p < 0,001), pH nước bọt không kích thích (p < 0,001), pH nước bọt kích thích (p = 0,01), độ nhớt nước bọt khi không kích thích (p < 0,001). Kết luận: khi phân tích từng yếu tố nguy cơ với sâu răng, khả năng tiết của tuyến nước bọt phụ, lưu lượng nước bọt khi có kích thích, pH nước bọt khi không có kích thích và có kích thích, độ nhớt nước bọt có liên quan đến sâu răng. Những kết quả này chứng tỏ, các xét nghiệm nước bọt được xem là phương pháp thích hợp để đánh giá nguy cơ sâu răng. Chiến lược dự phòng và kế hoạch điều trị nên dựa vào việc xác định yếu tố nguy cơ để đạt được sự phù hợp cho từng nhóm đối tượng khác nhau.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết

Xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng serotonin trong huyết tương bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao – detector huỳnh quang.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh, Phạm Thanh Hà, Nguyễn Thị Kiều Anh, Đào Văn Đôn

Trong khuôn khổ nghiên cứu, chúng tôi đã đề xuất một phương pháp định lượng Serotonin trong huyết tương chính xác và nhanh chóng, đồng thời tiến hành thẩm định lại phương pháp đó theo những hướng dẫn của cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm quốc gia Hoa Kỳ (FDA). Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu: mẫu thử và mẫu chuẩn, dung dịch chuẩn gốc nồng độ chính xác khoảng 250 mg/ml. Dung dịch chuẩn làm việc nồng độ chính xác khoảng 5000 ng/ml. Dãy dung dịch chuẩn tuyến tính có nồng độ Serotonin từ 100 đến 400 ng/ml. Mẫu trắng: mẫu huyết tương mua từ Viện huyết học truyền máu trung ương. Mẫu kiểm chứng (QC): Phối hợp một lượng xác định Serotonin chuẩn với huyết tương trắng để có các mẫu tự tạo có nồng độ xác đinh. Thiết bị và hóa chất: thiết bị phân tích: Hệ thống HPLC WATERS, detector huỳnh quang. Dung môi, hóa chất: Acetonitril, đệm Acetat 0.1N (pH 4), acid Pecloric 20%, Acid Ascorbic 3,4 M… Chất chuẩn: Serotonin tinh thể (Đức). Thẩm định phương pháp phân tích với các chỉ tiêu theo hướng dẫn thẩm định phương pháp phân tích của FDA. Kết quả: điều kiện tiến hành sắc ký: cột: C18, 5µm, 250 × 4,6 mm. Có tiền cột và cột bảo vê. Detector huỳnh quang với các bước sóng hấp thụ/ phát xạ lần lượt là 285 và 345 nm. Pha động: theo chương trình dung môi. Phương trình tuyến tính và hệ số tương quan: y = 18113x + 10272; r = 0,9997. Các giới hạn LOD, LOQ: LOQ = 2,25ng/ml, LOD = 0,74 ng/ml. Độ đúng (độ tìm lại) và độ lặp lại trong ngày: độ đúng tốt 98,70 – 106,20%, độ lệch nằm trong giới hạn cho phép (± 15%), đối với điểm gần giới hạn đinh lượng dưới sai số không vượt quá 20% (7,55%). Độ lặp lại trong ngày với giá trị RSD nhỏ 2,26 – 4,8%. Độ lặp lại khác ngày: độ lặp lại khác ngày cao với giá trị RSD < 10% (4,02 – 6,11 %). Độ ổn định: sau 3 chu kì đông rã: p = 0,06 – 0,17, mẫu Serotonin ổn định sau 3 chu kì rã đông. Độ ổn định dài ngày: p > 0,37, mẫu Serotonin ổn định sau một khoảng thời gian dài ngày cho phép

Xem chi tiết

Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 01

Tác giả: Nguyễn Xuân Hợi

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG và tỷ lệ có thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm và đánh giá các yếu tố liên quan đến tăng nồng độ progesterone, phân tích liên quan tương tác của nồng độ progesterone và các yếu tố khác đến tỷ lệ có thai lâm sàng. Nghiên cứu hồi cứu trên 1395 trường hợp IVF/ICSI được thực hiện tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2012. Tuổi ≤ 38; FSH ≤ 10 IU/L; chuyển phôi ngày 2 – 3; phcs đồ dài, ngắn và antagonist. Loại trừ các trường hợp cho hận noãn; các trường hợp PESA/ICSI. Kết quả cho thấy nồng độ progesterone trung bình cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm không có thai (0,88 ± 0,77 so với 0,76 ± 0,65). Khi progesterone tăng > 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai thấp hơn có ý nghĩa thống ke so với nồng độ progesterone ≤ 1,5 (21,6% so với 30,7%). Tỷ lệ progesterone tăng > 1,5 ng/ml trong kích thích buồng trứng là 9%. Với ngưỡng progesterone ≤ 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai lâm sàng cao hơn 1,63 lần và tỷ lệ làm tổ cao hơn 1,53 lần so với ngưỡng progesterone > 1,5 ng/ml. Progesterone tăng vào ngày tiêm hCG liên quan đến tỷ lệ có thai lâm sàng thấp hơn

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm và giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: PGS. TS. NGUYỄN DUY HUỀ

Tên tác giả: LƯU CÔNG THÀNH

U bao thần inh (Neurinoma) là một hối u xuất phát từ tế bào Schwann của bao thần inh ngoại biên, nó còn được gọi là Schwannoma, Neurilemmoma hay hối u tế bào Schwann. Chiếm tỷ lệ 47% trong tất cả các u tủ sống, thường là lành tính, phát triển chậm, đôi hi ác tính hóa (<1%) thì được gọi là "Malignant schwannoma" hay "Neurosarcoma" [1], [2]. Trong những năm gần đ o sự phát triển của học hiện đại, đặc biệt là ứng ụng má cộng hưởng từ trong chẩn đoán nên u bao thần inh cột sống đã được phát hiện sớm và điều trị ịp thời góp phần n ng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Do sự phát triển của hoa học công nghệ, đến na đã có nhiều phương pháp cận l m sàng giúp cho xác định u bao thần inh cột sống như chụp cột sống thường, chụp tủ cản quang (Myelography), chụp cắt lớp vi tính (CLVT), chụp cộng hưởng từ (CHT). Tuy nhiên, CHT có những ưu thế đặc biệt, với độ ph n giải phần mềm cao, hông bị các nhiễu o xương, có thể cắt được trên nhiều mặt phẳng hác nhau, đã trở thành phương pháp gần như hông thể thiếu trong thăm hám các hối u của cột sống. Trong những năm gần đ , đã có một số tác giả nghiên cứu ph n loại u bao thần inh cột sống, nhưng chưa đánh giá đầ đủ bản chất, thành phần bên trong hối u. Việc ứng ụng CHT có từ lực cao cho hình ảnh rõ nét, chi tiết các tổn thương, nhiều chuỗi xung mới được áp ụng, mở ra triển vọng phát hiện sớm và cho phép đánh giá bản chất thành phần bên trong hối u, nên nó là cơ sở để thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm và giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống”.

Với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống.
2. Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống.

Xem chi tiết

Giá trị trung vị của AFP, hCG, uE3 với kỹ thuật miên dịch hoá phát quang trong sàng lọc trước sinh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Thơ, Trần Thị Thanh Hương

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định giá trị trung vị của AFP, hCG, uE3 trong huyết thanh mẹ của các tuần thai 15→19 bằng kỹ thuật miễn dịch hoá phát quang trên máy Immulite 2000. 2. So sánh giá trị trung vị thu được với các giá trị trung vị của người châu Á trong phần mềm Prisca 4.020 (Mỹ). Kết quả cho thấy, Median AFP và uE3 tăng tỷ lệ thuận theo tuần thai từ tuần 15→ 19: AFP là 38,2→71,4 (ng/ml); uE3 là 2,67→ 5,7 (ng/ml). hCG giảm dần theo tuần thai, từ 15→ 19 tuần: 46,11→ 25,77 (ng/ml). – Khi chưa hiệu chỉnh cân nặng: nồng độ AFP và hCG của nghiên cứu cao hơn so với giá trị trung vị của người châu Á do hãng cung cấp (p<0,05.) trong khi nồng độ uE3 thấp hơn (p<0,05). Sau khi đã hiệu chỉnh cân nặng không còn sự khác biệt giữa các giá trị trung vị của kết quả nghiên cứu và của người châu Á do hãng cung cấp (p<0,05).

Xem chi tiết

Sự bộc lộ của P63 và CD10 với SMA trong ung thư biểu mô ống tại chỗ và xâm nhập của vú

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Bùi Thị Mỹ Hạnh

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy CD10 và p63 được bộc lộ trong các tế bào cơ biểu mô (CBM) của vú và có thể được sử dụng để phân biệt các ung thư biểu mô vú tại chỗ và xâm nhập. Mụ tiêu: khảo sát sự bộc lộ của SMA, CD10, p63 trong các ung thư biểu mô ống (UTBMO) tại chỗ và xâm nhập, đánh giá khả năng của CD10 và p63 so với SMA trong chẩn đoán phân biệt các UTBMO tại cho và xâm nhập của vú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Các khối nến bệnh phẩm của 26 UTBMO tại chỗ và 35 UTBMO xâm nhập đã được nhuộm miễn dịch với SMA, CD10 và p63. Tính chất bộc lộ đa được đánh giá theo các mức 0 đến 3+.Tính chất phân bố của tế bào CBM theo hai mức: liên tục hoặ từng phần. Kết quả: Trong UTBMO tại chỗ, các tế bào CBM đã được phát hiện ở 23/26 (88%) cá trường hợp (TH) khi nhuộm SMA so với 18/26 (69%) nhuộm CD10 và 25/26 (96%) nhuộm p63; Nhuộm liên tục quanh các cấu trúc ống ở 10/26 (38%) các TH nhuộm SMA so với 1/26 (4%) nhuộm CD10 va không gặp khi nhuộm p63; Cường độ nhuộm mạnh 3+ gặp trong 9/23 (39%) các TH nhuộm dương tính với SMA, so với 3/18 (17%) và 5/25 (20%) các TH nhuộm dương tính với CD10 và p63. Ngược lại, UT BMO xâm nhập đã không phát hiện thấy các tế bào CBM khi nhuộm CD10. Các nguyên bào xơ và te bào cơ trơn thành mạch đều nhuộm SMA (100%), CD10 chỉ nhuộm các nguyên bào xơ (31/61;51%) p63 không nhuộm mô đệm. Kết luận: p63 là một dấu ấn có độ nhạy và độ đặc hiệu cao hơn để pha hiện các tế bào CBM giúp phân biệt các UTBMO tại chỗ và xâm nhập.

Xem chi tiết

Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan b mạn tính bằng phân tích đơn biến và phân tích đa biến

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 2

Tác giả: Bùi Xuân Trường

Mục tiêu: đánh giá một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B (HBV) mạn tính. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 174 bệnh nhân. Xét nghiệm huyết thanh học dấu ấn HBV, nồng độ alpha - fetoprotein bằng ELISA, nồng độ HBV - DNA xác định bằng real - time PCR. Phân loại kiểu gen của HBV bằng PCR - RFLP hoặc ELISA. Đột biến gen của HBV xác định bằng giải trình tự gen. Các thuật toán phân tích đơn biến và đa biến tương quan hồi qui được áp dụng để xử lý số liệu. Kết quả: phân tích đơn biến cho thấy các yếu tố giới tính nam, nồng độ alpha - fetoprotein ≥ 20 ng/ml, nồng độ HBV - DNA ≥ 5,0 logcopies/ml, kiểu gen C của HBV, đột biến bộ đôi T1762A1764 và C/A1753, là các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính. Phân tích đa biến cho thấy nồng độ alpha - fetoprotein ≥ 20 ng/ml, nồng độ HBV - DNA ≥ 5,0 logcopies/ml, kiểu gen C của HBV và đột biến bộ đôi T1762A1764 là những yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê. Kết luận: nghiên cứu đã góp phần đánh giá một số yếu tố nguy cơ cao đối với xơ gan và ung thư gan ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh di căn phổi của ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hoá trên xạ hình toàn thân với i131

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Đình Hà

Mục tiêu: mô tả đặc điểm hình ảnh di căn phổi của ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hoá (UTBMTGBH) trên xạ hình với I131, xác định vai trò của xạ hình toàn thân với I131 trong chẩn đoán di căn phổi của UTBMTGBH. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phân tích, đánh giá giá trị Tg, kết quả xạ hình toàn thân với I131 và film CT phổi ở 60 bệnh nhân UTBMTGBH di căn phổi. Kết quả: xạ hình với I131 phát hiện 58/60 (96,67%) các trường hợp di căn phổi, trong đó di căn phổi đơn thuần 56,7%, di căn phổi có kèm di căn hạch trung thất 25% và di căn phổi kết hợp với di căn xương 18,3%. Hình ảnh tổn thương tăng tập trung I131 dạng lan toả chiếm 65%, dạng khu trú 31,7%, 3,33% bệnh nhân tổn thương di căn không bắt I131. Chụp CT phổi phát hiện 32/60 bệnh nhân (53,3%) còn 28/60 bệnh nhân (46,7%) không thấy hình ảnh tổn thương phổi trên CT. Giá trị Tg trong máu cao trên 10 ng/ml ở 55/60 bệnh nhân (91,67%), có 5/60 bệnh nhân (8,33%) giá trị Tg < 10 ng/ml. Kết luận: xạ hình với I131 cho hình ảnh điển hình giúp phát hiện di căn phổi của UTBMTGBH với độ nhạy rất cao. Tổn thương di căn phổi trên xạ hình là hình ảnh tăng tập trung I131 dạng lan tỏa hoặc khu trú. Xạ hình toàn thân với I131 đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán di căn phổi của UTBMTGBH. Hình ảnh tổn thương trên CT phổi kết hợp với nồng độ Tg trong máu cao có giá trị chẩn đoán trong những trường hợp tổn thương ở phổi không bắt I131 trên xạ hình.

Xem chi tiết