Hiệu quả của ranitidin tiêm trước mổ trên PH dịch vị ở bệnh nhân mổ cấp cứu bụng

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6

Tác giả: Cao Thị Hằng, Nguyễn Hữu Tú

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng PH dịch dạ dày trước mổ ở bệnh nhân mổ cấp cứu bụng và hiệu quả của ranitidin tiêm trước mổ trên PH dịch dạ dày. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp, mù đơn có đối chứng. PH dich dạ dày được đo trước mổ, trong mổ và sau mổ bằng máy đo PH hannainstrument. Bệnh nhân có ph < 2,5 đựơc chia làm 2 nhóm: Nhóm chứng và nhóm điều trị bởi 100 mg Ranitidin tiêm tĩnh mạch trước mổ. Kết quả: PH trước mổ của bệnh nhân cấp cứu bụng: 2,35 ± 1,62 (0,6 – 7,2); 100 mg ranitidin làm tăng PH dịch dạ dày đáng kể sau 1giờ và kéo dài đến 6 giờ. 2/34 bệnh nhân sau khi tiêm ranitidin có biểu hiện chóng mặt hoặc buồn nôn nhẹ. Kết luận: 65% bệnh nhân cấp cứu ngoại khoa bụng có ph < 2,5; 100 mg ranitidin tiêm tĩnh mạch trước mổ làm tăng PH dịch dạ dày đáng kể ở đa số các trường hợp.

Xem chi tiết

Giá trị của phép đo pco2 và ph máu nhĩ phải lấy qua catête tĩnh mạch trung tâm trong gây mê hồi sức mổ tim mở

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Quốc Kính

CO2 và H+ từ các mô đổ vào tĩnh mạch chủ trên và chủ dưới chảy về tim. Vậy PCO2 và pH ở máu nhĩ phải (hút qua catête tĩnh mạch trung tâm) có thể thay PCO2 và pH máu động mạch để đánh giá thông khí và toan kiềm không? Mục tiêu: Đánh giá mối tương quan và sự phù hợp của PCO2 và của pH giữa máu động mạch và máu nhĩ phải lấy qua catête tĩnh mạch trung tâm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, so sánh tự đối chứng. Paired t - test, r (theo Pearson), Bland - Altman được áp dụng. Kết quả: PCO2 nhĩ phải - động mạch chênh lệch -5.68 ( 2,44), r = 0,92 và phù hợp tốt. pH nhĩ phải - động mạch chênh lệch 0,04 ( 0,02), r = 0,94 và phù hợp tốt. Kết luận: PCO2 và pH máu nhĩ phải có thể thay PCO2 và pH máu động mạch trong gây mê và hồi sức bệnh nhân mổ tim mở.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi - mô bệnh học và đo pH thực quản liên tục 24 giờ trong hội chứng trào

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Đoàn Thị Hoài, Đặng Thị Kim Oanh

Mục tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi dạ dày, mô bệnh học thực quản và đo pH thực quản 24 giờ trong hội chứng trào ngược dạ dày - thực quản (HCTNDD - TQ). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Nội soi dạ dày ống mềm và sinh thiết thực quản cho 73 bệnh nhân có hội chứng trào ngược dạ dày - thực quản (58 được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Rome II) và đo pH thực quản liên tục 24 giờ cho 15 bệnh nhân có hội chứng trào ngược không điển hình. Kết quả: Tổn thương viêm thực quản chiếm 42,4% (31/73) bệnh nhân, trong đó chủ yếu là độ A (67,7%), ít gặp độ C và D (6,5%), 2/73 (2,7%) có Barret thực quản, 53,4% bệnh nhân có tổn thương viêm niêm mạc dạ dày kèm theo. Có 61% bệnh nhân có tổn thương viêm thực quản trên mô bệnh học, 13,9% có tổn thương Barret. Tỷ lệ pH bệnh lý ở nhóm bệnh nhân không điển hình là 40% (6/15, kết quả pH thực quản ở nhóm có hay không có tổn thương thực quản qua nội soi có sự khác nhau nhưng chưa có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Từ khóa: Viêm dạ dày – thực quản trào ngược, viêm thực quản, soi dạ dày, theo dõi pH dạ dày

Xem chi tiết

Các yếu tố PH, Lưu lượng độ nhớt của nước bọt và sâu răng ở trẻ 11-12 tuổi tại trường trung học cơ sở Mỹ Khánh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Khưu Thanh Mai, Lê Thị Lợi

Nước bọt được xem là có vai trò quan trọng đối với sức khỏe răng miệng. Mục tiêu: tìm ra mối liên quan giữa tình trạng sâu răng và các yếu tố nước bọt: pH, lưu lượng, độ nhớt bằng bộ test nước bọt Saliva check – Buffer của hãng Global Care (GC). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 142 học sinh lứa tuổi 11 - 12 (70 nam và 72 nữ), khỏe mạnh và không có khiếm khuyết ở răng. Khám lâm sàng để xác định số răng sâu, răng mất, răng trám (SMT - R). Các đối tượng được thu thập nước bọt cả khi không có kích thích và có kích thích để xác định pH, lưu lượng, độ nhớt. Kết quả và bàn luận: tình hình sâu răng và đặc tính nước bọt: pH, lưu lượng, độ nhớt ở trẻ 11 - 12 tuổi. Kết quả cho thấy 83,8% trẻ có sâu răng, nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam (p = 0,03), 50% trẻ có 1 ≤ SMT - R ≤ 3; 25,4% trẻ có 4 ≤ SMT - R ≤ 6, trung bình SMT - R = 2,89 với trung bình răng sâu = 2,82 (răng cối lớn thứ nhất: 68,33%, răng tiền cối thứ hai: 9,48%, răng tiền cối thứ nhất: 7,98%). Lưu lượng nước bọt khi có kích thích trung bình là 0,86 ml/phút, pH kích thích trung bình là 7,55. Ở nữ lưu lượng và pH nước bọt khi có kích thích thấp hơn ở nam (p = 0,008; p = 0,025). Phân tích các yếu tố nước bọt: pH, lưu lượng, độ nhớt với tình trạng sâu răng ở trẻ. Trung bình SMT-R tăng dần theo mức độ nguy cơ của các yếu tố nước bọt: khả năng tiết của tuyến nước bọt phụ khi không kích thích (p = 0,035), lưu lượng nước bọt kích thích (p < 0,001), pH nước bọt không kích thích (p < 0,001), pH nước bọt kích thích (p = 0,01), độ nhớt nước bọt khi không kích thích (p < 0,001). Kết luận: khi phân tích từng yếu tố nguy cơ với sâu răng, khả năng tiết của tuyến nước bọt phụ, lưu lượng nước bọt khi có kích thích, pH nước bọt khi không có kích thích và có kích thích, độ nhớt nước bọt có liên quan đến sâu răng. Những kết quả này chứng tỏ, các xét nghiệm nước bọt được xem là phương pháp thích hợp để đánh giá nguy cơ sâu răng. Chiến lược dự phòng và kế hoạch điều trị nên dựa vào việc xác định yếu tố nguy cơ để đạt được sự phù hợp cho từng nhóm đối tượng khác nhau.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu ứng dụng ống soi mềm trong vi phẫu thuật nang dây thanh

Chuyên ngành: TAI MŨI HỌNG

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Lương Thị Minh Hương

Tên tác giả: LÊ PHƯƠNG TÌNH

Nang dây thanh là một loại tổn thương lành tính ở lớp mô đệm, dưới niêm mạc dây thanh. Đây là bệnh hay gặp, chiếm tỷ lệ tương đối cao trong các tổn thương lành tính dây thanh. Theo một số nghiên cứu thì chiếm khoảng 14 - 16% các khối tổn thương lành tính dây thanh [1], [2].
Nang dây thanh gây ra khàn tiếng, biến đổi âm sắc, nói chóng mệt, gây khó khăn trong giao tiếp hoặc hoạt động nghề nghiệp. Nang dây thanh có thể gặp cả hai giới, nguyên nhân chính là do hoạt động của dây thanh một cách quá mức, do viêm nhiễm vùng mũi họng hay do trào ngược họng thanh quản [3], [4], [5]…
Ngày nay việc chẩn đoán nang dây thanh không khó nhờ có nhiều thiết bị được ứng d ng trong thăm khám và chẩn đoán bệnh lý nang dây thanh như nội soi ống cứng, nội soi ống mềm….
Soi hoạt nghiệm thanh quản đã được ứng d ng ở bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương để chẩn đoán bệnh lý dây thanh. Đây là phương pháp đánh giá sự rung động của dây thanh b ng nội soi dưới ánh sáng nhấp nháy strobe . Soi hoạt nghiệm cho thấy hình ảnh một cách r nét hơn về sóng niêm mạc, tính đối xứng và sự khép thanh môn mà dưới nội soi ánh sáng thường không quan sát được.
Việc điều trị nang dây thanh bao gồm điều trị các ổ viêm nhiễm kế cận, điều trị chống trào ngược họng- thanh quản và luyện giọng.
Phẫu thuật cắt bỏ nang là phương pháp điều trị thường được áp d ng đối với nang dây thanh, có nhiều phương pháp để phẫu thuật trong đó có thể phẫu thuật qua ống soi mềm. Ống soi mềm có kích thước nhỏ, mềm nên có thể đưa qua đường mũi, ít gây khó chịu cho bệnh nhân, dễ sử d ng do có thể uốn cong để đi vào các vùng mà ống soi cứng khó có thể soi được.

Để đánh giá hiệu quả của ống nội soi mềm trong phẫu thuật nang dây thanh chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên ng dụng ống soi mềm trong vi phẫ th ật nang dây thanh”.
Mục iêu:
1. Đối hiế một số i m âm s ng, nội soi v nội soi ho t nghi m trong nang dây thanh.
2. Đ nh gi ết sử dụng ống mềm vi phẫ th ật nang dây thanh q a nội soi v nội soi ho t nghi m.

Xem chi tiết

So sánh hiệu quả điều chỉnh ph dịch dạ dày của ranitidine liều 200mg với 100mg tiêm tĩnh mạch trước mổ ở bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu bụng

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 4

Tác giả: Vũ Thành Lâm, Nguyễn Hữu Tú

Nghiên cứu được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả giữa ranitidine liều 200mg và 100mg tiêm tĩnh mạch trước mổ trên pH dịch dạ dày ở bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu bụng và đánh giá tác dụng không mong muốn của ranitidine. Kết quả: pH dịch dạ dày sau tiêm thuốc 1 đến 10 giờ của nhóm 200mg cao hơn nhóm 100mg có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 và p < 0,05, tỷ lệ bệnh nhân có pH < 2,5 sau tiêm thuốc từ 1 đến 10 giờ của nhóm 200mg đều thấp hơn nhóm 100mg (p < 0,05). 4/90 bệnh nhân sau tiêm ranitidine có biểu hiện chóng mặt, buồn nôn hoặc đau nơi tiêm nhẹ, thoáng qua. Kết luận: Ranitidine liều 200 mg tiêm tĩnh mạch trước mổ làm tăng pH dịch dạ dày và làm giảm tỷ lệ bệnh nhân có pH < 2,5 nhiều hơn đáng kể so với liều 100mg. Các tác dụng không mong muốn của thuốc là không đáng kể.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, monitoring sản khoa, pH máu cuống rốn và kết quả kết thúc thai kỳ ở các sản phụ mang thai đủ tháng có nước ối xanh

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hoàng Bảo Nhân, Nguyễn Vũ Quốc Huy

Nghiên cứu nhằm khảo sát các đặc điểm lâm sàng, monitoring sản khoa, pH máu cuống rốn và đánh giá kết quả kết thúc thai kỳ ở những sản phụ mang thai đủ tháng có nước ối xanh. Kết quả cho thấy 65,7% sản phụ có tuổi thai quá ngày sinh dự đoán. Có 32,6% trường hợp có CTG bất thường, pH máu động mạch rốn là 7,20 ± 0,09, tỷ lệ trẻ nhiễm toan là 6,7%. CTG loại 3, nước ối xanh đặc kết hợp với CTG loại 2 cho phép dự báo tình trạng nhiễm toan của trẻ trên 90%. Trong chuyển dạ, các sản phụ có ối xanh nếu có CTG loại 3, hoặc CTG loại 2 kết hợp với ối xanh đặc cần kết thúc thai kỳ nhanh chóng.

Xem chi tiết

Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết