Multidrug and extensively drug-resistant TB (M/XDR-TB): 2010 global report on surveillance and response.

Tác giả: World Health Organization

Sir John Crofton (1912–2009), whose pioneering work in the use of combination drug therapy for the treatment of tuberculosis has resulted in countless lives saved

“The greatest disaster that can happen to a patient with tuberculosis is that his organisms become resistant to two or more of the standard drugs. Fortunately we can prevent the emergence of drug resistance in virtually all cases if we take enough trouble to ensure that the best drug combinations are prescribed and that the patient takes them as directed. It is often not realized how venial a sin can result in ultimate disaster. It might be suggested that giving a risky combination of drugs, or even giving a drug alone, will not matter if it is only for a short time. It is true that it may not matter in a number of patients, but in some it can matter very much and may make all the difference between survival and death.

The development of drug resistance may be a tragedy not only for the patient himself but for others. For he can infect other people with his drug-resistant organisms. In such patients the disease would not be sensitive to the drug in question. A recent survey by the Medical Research Council (Fox et al., 1957) in various clinics all over the country has shown that no less than 5% of newly diagnosed patients were infected with organisms resistant to at least one of the three main drugs. If physicians come to apply thoroughly the present knowledge about preventing drug resistance, this percentage should steadily diminish”.

From Chemotherapy of pulmonary tuberculosis, by John Crofton, read to a plenary session at the Annual Meeting of the British Medical Association, Birmingham, England, 1958 (British Medical Journal, 1959, 5138(1):1610–1614).

Xem chi tiết

Nghiên cứu ứng dụng ống soi mềm trong vi phẫu thuật nang dây thanh

Chuyên ngành: TAI MŨI HỌNG

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Lương Thị Minh Hương

Tên tác giả: LÊ PHƯƠNG TÌNH

Nang dây thanh là một loại tổn thương lành tính ở lớp mô đệm, dưới niêm mạc dây thanh. Đây là bệnh hay gặp, chiếm tỷ lệ tương đối cao trong các tổn thương lành tính dây thanh. Theo một số nghiên cứu thì chiếm khoảng 14 - 16% các khối tổn thương lành tính dây thanh [1], [2].
Nang dây thanh gây ra khàn tiếng, biến đổi âm sắc, nói chóng mệt, gây khó khăn trong giao tiếp hoặc hoạt động nghề nghiệp. Nang dây thanh có thể gặp cả hai giới, nguyên nhân chính là do hoạt động của dây thanh một cách quá mức, do viêm nhiễm vùng mũi họng hay do trào ngược họng thanh quản [3], [4], [5]…
Ngày nay việc chẩn đoán nang dây thanh không khó nhờ có nhiều thiết bị được ứng d ng trong thăm khám và chẩn đoán bệnh lý nang dây thanh như nội soi ống cứng, nội soi ống mềm….
Soi hoạt nghiệm thanh quản đã được ứng d ng ở bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương để chẩn đoán bệnh lý dây thanh. Đây là phương pháp đánh giá sự rung động của dây thanh b ng nội soi dưới ánh sáng nhấp nháy strobe . Soi hoạt nghiệm cho thấy hình ảnh một cách r nét hơn về sóng niêm mạc, tính đối xứng và sự khép thanh môn mà dưới nội soi ánh sáng thường không quan sát được.
Việc điều trị nang dây thanh bao gồm điều trị các ổ viêm nhiễm kế cận, điều trị chống trào ngược họng- thanh quản và luyện giọng.
Phẫu thuật cắt bỏ nang là phương pháp điều trị thường được áp d ng đối với nang dây thanh, có nhiều phương pháp để phẫu thuật trong đó có thể phẫu thuật qua ống soi mềm. Ống soi mềm có kích thước nhỏ, mềm nên có thể đưa qua đường mũi, ít gây khó chịu cho bệnh nhân, dễ sử d ng do có thể uốn cong để đi vào các vùng mà ống soi cứng khó có thể soi được.

Để đánh giá hiệu quả của ống nội soi mềm trong phẫu thuật nang dây thanh chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên ng dụng ống soi mềm trong vi phẫ th ật nang dây thanh”.
Mục iêu:
1. Đối hiế một số i m âm s ng, nội soi v nội soi ho t nghi m trong nang dây thanh.
2. Đ nh gi ết sử dụng ống mềm vi phẫ th ật nang dây thanh q a nội soi v nội soi ho t nghi m.

Xem chi tiết

Hiệu quả của PCR trong phát hiện M. tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm soi kính âm tính của bệnh nhân lao

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Hồ Minh Lý, Nguyễn Vân Anh, Phạm Kim Liên, Nguyễn Hiền Anh, Nguyễn Kim Trinh, Đặng Đức Anh, Nguyễn Văn Thiêm

PCR được áp dụng để xác định M. tuberculosis trực tiếp trong bệnh phẩm của 254 bệnh nhân lao và 60 bệnh phẩm của bệnh nhân nhóm chứng. Tất cả các bệnh nhân lao đều có kết quả âm tính với trực khuẩn kháng cồn, kháng axit (AFB) bằng soi kính hiển vi trực tiếp. Bệnh phẩm nhóm chứng bao gồm dịch não tuỷ, dịch màng phổi, và dịch rửa phế quản của bệnh nhân có căn nguyên ngoài lao. Đối với bệnh phẩm của bệnh nhân lao, PCR đã phát hiện được M. tuberculosis trong 60/100 (60%) bệnh phẩm đờm , 35/41 (85%) bệnh phẩm dịch rửa phế quản, 60/86 (70%) bệnh phẩm dịch não tuỷ và 19/27 (70%) bệnh phẩm dịch màng phổi, đạt độ nhậy chung là 69%. PCR chỉ cho dương tính giả với 2 trong số 60 bệnh phẩm nhóm chứng, đạt độ đặc hiệu chung là 97%. Đối với các bệnh phẩm có kết quả nuôi cấy âm tính, PCR phát hiện được M. tuberculosis trong 81/118 trường hợp đạt 69%. Tất cả các trường hợp nuôi cấy dương tính, ngoại trừ một mẫu dịch não tuỷ và hai mẫu dịch rửa phế quản, đều có phản ứng PCR dương tính. Kết quả cho thấy PCR là một trong những công cụ có thể cải thiện khả năng chẩn đoán bệnh lao bao gồm cả lao phổi và lao ngoài phổi, đặc biệt là các trường hợp AFB âm tính bằng soi kính.

Xem chi tiết

Đa dạng phân tử và mối liênquan với tính kháng thuốc của chủng lao m. tuberculosis phân lập ở hưng yên

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Đức Hinh, Nguyễn Thị Thu Hà

Nguyễn Duy Hưng, Nguyễn Thị Vn Anh, Phạm Kim Lin, Trần Thanh Hoa, Hồ Minh Lý

Xem chi tiết

So sánh trình tự Nucleotide ở vùng E và C/Pre-M của chủng virut viêm não Nhật Bản lưu hành ở miền Bắc Việt Nam với chủng SA-14

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử (sequencing) để xác định trình tự nucleotide của chủng virut viêm não Nhật Bản. Mục tiêu: So sánh trình tự nucleotide ở vùng gen E và C/Pre-M của virut viêm não Nhật Bản chủng HNH693 với chủng SA-14. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chủng virut viêm não Nhật Bản HNH693 phân lập từ bệnh nhân ở miền Bắc Việt Nam năm 1993 được xác định trình tự nucleotide và so sánh với trình tự nucleotide của chủng SA-14. Kết quả: Chủng HNH 693 và chủng SA-14 có tỷ lệ đồng nhất tới trên 96% về trình tự nucleotide và 99,3% trình tự acid amin. Kết luận: Chủng HNH693 và chủng SA-14 thuộc một phân nhóm kiểu gen và đều nằm trong nhóm lớn cùng kiểu gen với các chủng viêm não Nhật Bản điển hình: Nakayama 1935, Nakayama NIH, Beijing1, Nhật Bản Ja Ar OS982

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Giá trị của Homa, Quicki trong chẩn đoán kháng Insulin ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 cao tuổi có hội chứng chuyển hóa

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hồ Thị Kim Thanh, Phạm Thắng, Đỗ Thị Khánh Hỷ

Phương pháp chính xác nhất hay “tiêu chuẩn vàng” để đánh giá kháng insulin là phương pháp kẹp Hyperinsulinemic – Euglycemic Clamp. Tuy nhiên để áp dụng rộng rãi trên lâm sàng và nghiên cứu cộng đồng người ta đã đưa ra rất nhiều phương pháp gián tiếp, ít xâm nhập hơn. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm: Mục tiêu: đánh giá mối tương quan giữa HOMA, QUICKI với chỉ số kháng insulin bằng nghiệm pháp kẹp Hyperinsulinemic – Euglycemic Clamp ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2 cao tuổi có hội chứng chuyển hóa (HCCH). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 52 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cao tuổi có HCCH. Định lượng đường máu, insulin máu lúc đói, tính HOMA, QUICKI. Tiến hành nghiệm pháp kẹp Hyperinsulinemic – Euglycemic Clamp (40mU/m2/phút), tính tốc độ truyền glucose trung bình trong 30 phút cuối của nghiệm pháp (M mg/kg/phút). So sánh tương quan giữa HOMA, Log HOMA và QUICKI với M. Kết quả: HOMA tương quan nghịch chặt chẽ với M (mg/kg/ph) (r = - 0,558; p < 0,0001) và Log HOMA tương quan nghịch chặt chẽ M (mg/kg/ph) (r = - 0,577; p < 0,0001). QUICKI không tương quan với M (r = 0,233; p = 0,081). Kết luận: HOMA và Log HOMA có giá trị tốt đánh giá mức độ kháng insulin ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 cao tuổi có HCCH.

Xem chi tiết