Vai trò chỉnh thị nhằm phục hồi thị giác hai mắt trong lác cơ năng

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 2

Tác giả: Phạm Văn Tần

Đánh giá kết quả chỉnh thị phục hồi thị giác hai mắt (TG2M) trong lác cơ năng và đưa ra một số chỉ định. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 220 trẻ lác cơ năng điều trị tại bệnh viện Mắt Trung ương trong 4 năm, chia 2 nhóm: nhóm I (I): điều trị chỉnh thị; nhóm II (II): không chỉnh thị, chỉ điều trị nhược thị và phẫu thuật. Thiết kế nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng giữa (I) với (II) Kết quả: thay đổi thị giác hai mắt sau điều trị, lác quy tụ (I)/(II) ĐT: 65,46%/3,57%; HT: 54,76%/2,43%; PT: 29,28%/0% (p < 0,01). Lác phân kỳ (I)/(II) ĐT: 42,31%/11,5%; HT: 30,72%/3,85%; PT: 19,28%/0% (p < 0,05). Biên độ hợp thị: Lác quy tụ mở rộng (I)/(II): 66,67%/0%; Lác phân kỳ (I)/(II): 100%/25%. Tương ứng võng mạc trở lại bình thường: nhóm I: 44,05% - > 61,54%; nhóm II: 25% - > 30,77%. Xóa bỏ ám điểm trung hòa: nhóm I: 75%; nhóm II: 0,71%. Kết luận: Chỉnh thị đưa lại kết quả tốt, phục hồi thị giác hai mắt, tình trạng tương ứng võng mạc được cải thiện tốt và mở rộng biên độ hợp thị, xóa bỏ tốt ám điểm trung hòa.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng ô nhiễm ASEN, Thủy ngân, CADIMI, Chì & NIKEN trong môi trường nuôi đến thực phẩm thủy sản tại 16 ao hồ Hà Nội

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trịnh Bảo Ngọc, Phạm Duy Tường, Trần Thị Thoa, Nguyễn Lân

Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng ô nhiễm As, Hg, Cd, Pb & Ni trong môi trường nuôi đến chất lượng thực phẩm thuỷ sản tại 16 ao hồ Hà Nội. Kết quả cho thấy 100% mẫu nước, mẫu bùn cặn và thủy sản bị nhiễm cả 5 kim loại được nghiên cứu với mức độ nhiễm khác nhau tùy theo ao nuôi, mùa vụ, tầng nước thủy sản sinh sống và loại thủy sản. Hàm lượng trung bình của As & Hg trong nước và trong thủy sản có mối tương quan chặt chẽ với nhau theo ao nuôi đối với những thủy sản sống ở tầng nước mặt và tầng nước giữa. Kết luận: Mức độ nhiễm về As, Hg, Cd, Ni trong môi trường nuôi (nước, bùn cặn) có ảnh hưởng rõ ràng tới mức độ nhiễm các kim loại này trong thủy sản với p <0,05 hoặc p < 0,001.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tình trạng đục bao sau thể thuỷ tinh thứ phát sau phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo hậu phòng

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Phạm Thị Kim Thanh

336 mắt của 278 bệnh nhân (BN) đã được phẫu thuật lấy TTT ngoài bao đặt TTTNT cứng chất liệu Polymethylmethacrylate (PMMA), 2 mặt lồi và chiều dài từ 12,5 - 13mm. Chúng tôi tiến hành phẫu thuật theo 3 phương pháp (lấy TTT ngoài bao theo phương pháp Phaco, lấy TTT ngoài bao đơn thuần và lấy TTT ngoài bao kết hợp cắt bè củng giác mạc. BN được khám lại sau 1 ngày, 7 ngày, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm, và trên 2 năm. Đục bao sau TTT được đánh giá bằng khám trên sinh hiển vi với ánh sáng chiếu hậu. Sau theo dõi từ 6 - 33 tháng (trung bình 19,8 tháng) tỷ lệ đục bao sau TTT là 36,6% (dưới 6 tháng là 10,4%, từ 6 đến 12 tháng là 24%, từ 13 đến 24 tháng là 31,1% và trên 24 tháng là 43,3%). Tỷ lệ và mức độ đục bao sau TTT tăng dần theo thời gian. Thời gian từ khi phẫu thuật tới khi xuất hiện đục bao sau ở hình thái xơ là 11,1 tháng, hình thái hạt Elschnig là 23,4 tháng, và hình thái hỗn hợp là 21, 8 tháng. Một số yếu tố như tuổi, bệnh lý của TTT, phương pháp phẫu thuật, vị trí của TTTNT, các biến chứng sau mổ có ảnh hưởng tới tần xuất đục bao sau TTT. Tuy nhiên chúng tôi chưa nhận thấy có ảnh hưởng của chiều dài TTTNT tới tỷ lệ đục bao sau.

Xem chi tiết

Hiệu quả của truyền tinh mạch methyl - prednisolon trong điều trị viêm thị thần kinh

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 5

Tác giả: Mai Quốc Tùng, Sreng Huong, Nguyễn Trọng Hung, Phạm Trọng Văn

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của truyền tĩnh mạch methyl-prednisolon trong điều trị viêm thị thần kinh tự phát (VTTKTP). Bệnh nhân viêm thị thần kinh tự phát được điều trị tại bệnh viện Lão khoa Trung ương từ 1/2012 đến 5/2013. Phương pháp: can thiệp lâm sàng không đối chứng, bệnh nhân được truyền tĩnh mạch methyl - prednisolon liều 1g/ngày x 3 ngày. Sau đó uống medrol 0,8mg/kg/ngày x 11 ngày rồi giảm liều và dừng hẳn sau 3 ngày. Kết quả: 33 bệnh nhân tham gia với tuổi trung bình là 41,3 ± 11,6 tuổi. 19 bệnh nhân bị 1 mắt, 14 bị hai mắt. Triệu chứng gồm giảm thị lực, đau hốc mắt (45,5%), rối loạn sắc giác (90%), giảm thị lực tương phản (80,0%), tổn thương phản xạ đồng tử hướng tâm (39,4%), Số hàng thị lực tăng trung bình là 2,7 hàng sau 2 tuần, 5,2 sau 3 tháng, và 6,1 sau 6 tháng. 58,3% mắt có thị lực bình thường sau 6 tháng. Tác dụng phụ gồm tăng cân (35,5%), kích ứng dạ dày (12,1%), rối loạn tâm thần nhẹ, mất ngủ (21,2%). Kết luận: Truyền methyl - prednisolon liều cao làm phục hồi thị lực nhanh, tác dụng phụ của thuốc nhẹ và tự hết sau khi dừng thuốc.

Xem chi tiết

Xây dựng phương pháp định lượng thuỷ ngân trong một số mỹ phẩm dạng kem bôi da bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Vũ Quang, Đỗ Thị Thanh Thủy, Thái Nguyễn Hùng Thu, Lê Thị Hường Hoa, Lê Đình Chi

Theo Hiệp định hòa hợp quản lý mỹ phẩm của ASEAN năm 2003, thủy ngân và các hợp chất có chứa thủy ngân không được phép có mặt trong mỹ phẩm. ASEAN cũng đưa ra giới hạn cho phép với thủy ngân là 0,5ppm. Mục tiêu: đưa ra một quy trình xác định hàm lượng thủy ngân có thể có trong một số đối tượng mẫu mỹ phẩm mà trước mắt là dạng kem bôi da phải đảm bảo độ đặc hiệu, độ nhạy cao, đáp ứng được giới hạn phát hiện mà phương pháp ASEAN đã quy định và có khả năng thực hiện được với những thiết bị hiện có để kiểm tra hàm lượng thủy ngân trên một số mẫu mỹ phẩm đang lưu hành trên thị trường Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu: 6 mẫu mỹ phẩm dạng kem bôi da được mua trên thị trường (mã hóa M1-M6). Dung dịch chuẩn thuỷ ngân 1000mg/ml (J.T.Baker, Mỹ). Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Z-5000 (Hitachi, Nhật Bản) được trang bị bộ dụng cụ phân tích thuỷ ngân chuyên dụng "A.A- Mercury Reduction Unit". Phương pháp nghiên cứu: Xử lý mẫu bằng kỹ thuật vô cơ hoá ướt trong thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng. Quy trình đo thủy ngân bằng phương pháp hoá hơi lạnh ở nhiệt độ thường cho phép loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nền mẫu. Kết quả thực nghiệm và bàn luận: xác định điều kiện vô cơ hóa mẫu: Chương trình nhiệt độ cho thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng với hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxid 30%. Sau khi vô cơ hóa trong thiết bị xử lý mẫu bằng vi sóng, thêm dung dịch kali permanganat 5% để ổn định toàn lượng thủy ngân có trong mẫu về dạng Hg2+để chuẩn bị sẵn sàng cho quá trình khử hóa Hg2+ về Hg0 ở dạng hơi để phân tích toàn lượng bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử. Phương pháp được thẩm định về độ lặp lại, độ đúng, với LOD là 30ng và LOQ là 100ng thủy ngân tính theo tổng lượng thủy ngân có trong phần mẫu đem phân tích. Kết quả phân tích 6 mẫu cho thấy 2 mẫu (M2 và M3) có chứa thủy ngân. Hàm lượng thủy ngân đã xác định được trong mẫu M2 là 29,9ppm và trong mẫu M3 là 1,4ppm, đều cao hơn mức độ khuyến cáo trong phương pháp hòa hợp của ASEAN là 0,5ppm. Tuy số lượng mẫu khảo sát còn ít nhưng cho thấy nguy cơ lạm dụng thủy ngân trong mỹ phẩm dạng kem bôi da là rất tiềm ẩn nên cần khảo sát rộng hơn để có kết luận chính thức và có biện pháp kiểm soát chặt chẽ mỹ phẩm về tiêu chí này. Kết luận: quy trình định lượng thủy ngân trong mỹ phẩm bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử với quá trình vô cơ hóa mẫu được thực hiện trong lò vi sóng sử dụng hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxyd 30%. Quá trình phân tích thủy ngân được thực hiện bằng phương pháp nguyên tử hóa lạnh sử dụng đèn cathod rỗng thủy ngân ở bước sóng 253,7nm và dung dịch SnCl210% làm tác nhân khử. Quy trình đã được áp dụng kiểm tra thủy ngân trong 6 mẫu kem bôi da, kết quả đã phát hiện 2 mẫu có hàm lượng thủy ngân cao hơn giới hạn quy định của phương pháp hòa hợp ASEAN (0,5ppm).

Xem chi tiết

Ảnh hưởng ô nhiễm môi trường nuôi đến chất lượng thuỷ sản ở một số ao hồ Hà Nội

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trịnh Bảo Ngọc, Phạm Duy Tường, Nguyễn Thị Tuyến, Trần Thị Thoa, Lê Thị Tài

Mục tiêu: nghiên cứu mức độ ảnh hưởng ô nhiễm kim loại nặng và vi sinh vật trong môi trường nuôi đến chất lượng thuỷ sản ở một số ao hồ Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: lấy mẫu nước, bùn, thuỷ sản ở một số ao hồ nuôi trồng thuỷ sản tại 2 thời điểm mùa mưa và mùa khô để xét nghiệm định lượng một số kim loại nặng (As, Cr, Hg, Pb, Cd, Ni), và vi sinh vật (VKHK, E. Coli). Kết quả: kết quả thu được về mức độ nhiễm kim loại nặng và vi sinh vật trong 100 mẫu nước, 81 mẫu bùn cặn và 240 mẫu thủy sản các loại được lấy từ 17 ao hồ hiện đang nuôi thủy sản của Hà Nội vào mùa mưa (tháng 8, 9) và mùa khô (tháng 1,2) cho thấy 100% mẫu nước, bùn cặn và thủy sản bị nhiễm kim loại nặng As, Cr, Hg, Pb, Cd, Ni, VKHK & E. coli. Mức độ ô nhiễm có sự khác nhau tùy theo mùa, mùa khô mức độ ô nhiễm cao hơn hẳn so với mùa mưa. Kết luận: mức độ ô nhiễm của môi trường nuôi (nước, bùn cặn) có ảnh hưởng rõ ràng tới mức độ ô nhiễm trong thủy sản về cả kim loại nặng cũng như vi sinh đối với hầu hết các chỉ số nghiên cứu với p < 0,05 hoặc p < 0,001.

Xem chi tiết