Hóa Phân Tích Tập 1 (Sách đào tạo DSĐH) – Bộ Y Tế

Chủ biên: PGS. TS. Võ Thị Bạch Huệ

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, ĐH Y Dược TPHCM, NXB Giáo Dục

Giới thiệu

Sách HOÁ PHÂN TÍCH được biên soạn dựa trên chương trình giáo dục của Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở chương trình khung dã được phê duyệt. Sách được các tác giả PGS.TS. Võ Thị Bạch Huệ, ThS. Phùng Thế Đồng, ThS. Trần Thị Trúc Thanh, ThS. Phan Thanh Dũng, ThS. Nguyên Hữu Lạc Thủy biên soạn theo phương châm: Kiến thức cơ bản, hệ thống; nội dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn Ở Việt Nam.

Xem chi tiết

Hóa Học Hữu Cơ Tập 1 (Sách tham khảo)

Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Hữu Đĩnh

Nhà xuất bản: NXB Giáo Dục

Giới thiệu

Để nâng cao chất lượng học tập, giảng dạy và nghiên cứu Hoá học Hữu cơ nhất thiết phải có những bộ giáo trình Hoá học Hữu cơ với nội dung vừa cơ bản vừa hiện đại về mặt lí thuyết và phương pháp thực nghiệm vừa phong phú và cập nhật về mặt thực tế, đồng thời phải chặt chẽ, logic về mặt bố cục, chuẩn xác về mặt khoa học lại sáng sủa và dễ hiểu.

Xem chi tiết

Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thƣơng cột sống cổ thấp có liệt tủy qua đƣờng cổ trƣớc tại Bệnh viện Hữu Nghị- Việt Đức

Chuyên ngành: Ngoại khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN VĂN THẠCH TS. NGUYỄN LÊ BẢO TIẾN

Tên tác giả: VŨ VĂN CƢỜNG

CTCS cổ là những tổn thƣơng về xƣơng đốt sống, đĩa đệm, tủy sống, và hệ thống dây chằng quanh đốt sống vùng cổ. Tại Việt Nam, CTCS cổ chiếm từ 2- 5% của bệnh lý chấn thƣơng đầu mặt cổ, trong đó có khoảng 10% bệnh nhân bị chấn thƣơng tủy cổ mà trên phim Xquang thƣờng qui không phát hiện ra tổn thƣơng xƣơng. Tỷ lệ tổn thƣơng thần kinh do chấn thƣơng cột sống cổ rất cao (60- 70%) [24] [14], trong đó tổn thƣơng tủy hoàn toàn không tiến triển sau điều trị khoảng 50%. [28] CTCS cổ thấp là tổn thƣơng từ C3- C7 chiếm phần lớn (86,6%)[1]. Đây cũng chính là những tổn thƣơng gây nên tổn thƣơng tủy nhiều nhất và để lại hậu quả nặng nề nhất. Nguyên nhân do những tổn thƣơng ở đốt sống cổ cao thƣờng tử vong trƣớc khi đến viện. Vì vậy, trách nhiệm của ngƣời thầy thuốc lâm sàng là làm giảm thiểu mức lan rộng của tổn thƣơng tủy và tạo điều kiện tối ƣu cho tủy phục hồi. Trƣớc những năm 1990, đa số các trƣờng hợp CTCS cổ đƣợc điều trị bảo tồn: bất động bằng bột Minerve hoặc phƣơng pháp kéo liên tục Cruhfield, phần lớn bệnh nhân tàn tật vĩnh viễn hoặc tử vong. Sau năm 1991, một loạt các phƣơng tiện hiện đại: chụp CLVT, chụp MRI đƣợc đƣa vào sử dụng và khai thác nên việc chẩn đoán CTCS cổ chính xác hơn, cùng với phát triển vƣợt bậc của ngành gây mê hồi sức nên việc điều trị bằng phẫu thuật đã có hiệu quả rất lớn làm giảm thiểu thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, thuận lợi cho sự phục hồi và tái hòa nhập trở lại cộng đồng, đặc biệt tỷ lệ tử vong của CTCS cổ giảm từ 33% xuống 9,1% [25]
Những CTCS cổ cao C1, C2 có tổn thƣơng tủy thƣờng ít gặp hơn những CTCS cổ thấp vì những bệnh nhân này thƣờng tử vong trƣớc khi đến viện hoặc là trƣớc khi phẫu thuật. Do vậy, trên lâm sàng thƣờng gặp những bệnh nhân CTCS cổ thấp có liệt tủy. Những vấn đề đặt ra cho các
2
PTV trong lĩnh vực điều trị CTCS cổ thấp có liệt tủy là: phẫu thuật hay không phẫu thuật, dựa vào đâu để chỉ định phẫu thuật, phẫu thuật vào thời điểm nào và phẫu thuật nhƣ thế nào để giải quyết 2 mục đích: hạn chế sự lan rộng của tổn thƣơng tủy và làm vững cột sống. Do đó chúng tôi nghiên cứu đề tài: „ Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thƣơng cột sống cổ thấp có liệt tủy qua đƣờng cổ trƣớc tại Bệnh viện Hữu Nghị- Việt Đức‟ nhằm 2 mục tiêu:

1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân chấn thƣơng cột sống cổ thấp có liệt tủy.

2. Đáng giá kết quả phẫu thuật chấn thƣơng cột sống cổ thấp có liệt tủy qua đƣờng cổ trƣớc

Xem chi tiết