Mối liên quan giữa tỷ lệ diệt h. Pylori và tình trạng kháng kháng sinh của các bệnh nhân viêm,loét dạ dày tá tràng do nhiễm h. Pylori tại bệnh viện nhi trung ương

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Nguyễn Thị Việt Hà, Nguyễn Gia Khánh

Kháng kháng sinh, đặc biệt là kháng clarithromycin được xem là có ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị bệnh lý dạ dày tá tràng do H. pylori. Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan giữa tỷ lệ diệt H. pylori và tình trạng kháng kháng sinh ở trẻ em bị viêm, loét dạ dày tá tràng do nhiễm H. pylori. Đánh giá hiệu quả điều trị dựa trên 222 trẻ. Ở phác đồ LAC, hiệu quả điều trị ở những bệnh nhân mang chủng vi khuẩn nhạy cảm cao hơn nhóm kháng thuốc (78,2% và 28,3% p = 0,001). Hiệu quả của phác đồ sử dụng thuốc clarithromycin và lansoprazole một lần trong ngày thấp hơn nhóm dùng thuốc hai lần trong ngày (14,7% và 50% p = 0,004) ở bệnh nhân có các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Không có sự khác biệt về hiệu quả điều trị theo giới tính ở phác đồ này. Với phác đồ LAM, không có sự khác biệt về việc dùng thuốc một hay hai lần trong ngày. Hiệu quả điều trị ở trẻ gái thấp hơn so với trẻ trai (p = 0,0063). Sử dụng thuốc hai lần trong ngày mang lại hiệu quả điều trị cao hơn. Phác đồ sử dụng metronidazole mang lai hiệu quả diệt vi khuẩn cao hơn ở trẻ trai. Từ khóa: H. pylori, kháng kháng sinh

Xem chi tiết

Nghiên cứu tình trạng albumin máu và ảnh h¬ưởng của giảm albumin máu ở bệnh nhi tại khoa Điều trị tích cực bệnh viện Nhi trung ương

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hồng Tuấn Hòa, Phạm Văn Thắng

Nghiên cứu mô tả tiến cứu 146 bệnh nhi tại khoa ĐTTC bệnh viện Nhi TW từ 02/2004 - 07/2004 về các chỉ tiêu cận lâm sàng: albumin máu, điện giải đồ, khí máu và huyết học vào thời điểm lúc nhập viện và sau khoảng 24 giờ. Khoảng trống ion âm (bao gồm kali), kiềm dư dịch ngoại bào, bicarbonate chuẩn, canxi huyết thanh được tính toán và điều chỉnh theo albumin máu. Tần suất giảm albumin máu lúc nhập viện là 56,2%; tỷ lệ tử vong nhóm giảm albumin máu là 56,1%, sự khác biệt về tỷ lệ tử vong của hai nhóm giảm và không giảm albumin máu chưa thấy có ý nghĩa thống kê. Sau khi điều chỉnh theo albumin tỷ lệ của khoảng trống ion âm tăng ( > 18 mmol/l) tăng từ 32,3% lên 46,0% (n = 189); toan chuyển hóa có khoảng trống ion âm tăng từ 62,0% lên 77,2% (n = 79). Mặt khác, cũng sau khi điều chỉnh theo albumin thì tỷ lệ canxi toàn phần huyết thanh >= 2 mmol/l tăng từ 51,2% lên 69,3% (n = 215).

Xem chi tiết

Nghiên cứu gen cagA và vacA trên các chủng Helicobacter pylori kháng kháng sinh phân lập từ bệnh nhi tại Việt Nam

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Út, Phạm Diệu Quỳnh, Lê Thanh Hải, Hoàng Thị Thu Hà

Helicobacter pylori (H. pylori) kháng kháng sinh là nguyên nhân chính gây thất bại trong việc điều trị diệt H. pylori. Nhiều nghiên cứu trên người lớn đã tìm thấy mối liên quan giữa kháng kháng sinh và yếu tố độc lực vi khuẩn (gen cagA và VacA). Tuy nhiên, vấn đề này chưa có bằng chứng khoa học đối với bệnh nhân nhi nhiễm chủng H. pylori kháng kháng sinh. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa sự kháng kháng sinh và gen cagA và vacA trên bệnh nhi nhiễm chủng H. pylori kháng kháng sinh. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2012 đến tháng 9/2013, tại Bệnh viện Nhi Trung ương trên 150 bệnh nhi được chẩn đoán nhiễm chủng H. pylori kháng kháng sinh. Các bệnh nhi được xác định kiểu gen cagA, vacA bằng kỹ thuật PCR đa mồi. Kết quả cho thấy 34% chủng H. pylori có gen cagA dương tính. Tỉ lệ vacAs1, vacAs2, vacAm1, vacAm2, vacAs1/m1, vacAs1/m2 và vacAs2/m2 lần lượt là 39,3%, 14,7%, 37,3%, 23,3%, 16,7%, 11,3% và 6,6%. Chủng H. pylori độc lực cao mang cả 3 gen, cagA, vacAm1 và vacAs1 được tìm thấy ở 8% bệnh nhi. Tỉ lệ chủng vi khuẩn mang gen cagA và vacA không có sự khác biệt giữa nhóm kháng amoxicillin, clarithromycin, và metronidazole. Do vậy, việc lựa chọn phác đồ điều trị khác nhau cho bệnh nhi nhiễm chủng H. pylori kháng kháng sinh có cagA, vacA dương tính là không cần thiết.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Giá trị của phép đo pco2 và ph máu nhĩ phải lấy qua catête tĩnh mạch trung tâm trong gây mê hồi sức mổ tim mở

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Quốc Kính

CO2 và H+ từ các mô đổ vào tĩnh mạch chủ trên và chủ dưới chảy về tim. Vậy PCO2 và pH ở máu nhĩ phải (hút qua catête tĩnh mạch trung tâm) có thể thay PCO2 và pH máu động mạch để đánh giá thông khí và toan kiềm không? Mục tiêu: Đánh giá mối tương quan và sự phù hợp của PCO2 và của pH giữa máu động mạch và máu nhĩ phải lấy qua catête tĩnh mạch trung tâm. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, so sánh tự đối chứng. Paired t - test, r (theo Pearson), Bland - Altman được áp dụng. Kết quả: PCO2 nhĩ phải - động mạch chênh lệch -5.68 ( 2,44), r = 0,92 và phù hợp tốt. pH nhĩ phải - động mạch chênh lệch 0,04 ( 0,02), r = 0,94 và phù hợp tốt. Kết luận: PCO2 và pH máu nhĩ phải có thể thay PCO2 và pH máu động mạch trong gây mê và hồi sức bệnh nhân mổ tim mở.

Xem chi tiết

Ngộ độc chì ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Trung ương: một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Ngô Tiến Đông, Phạm Thị Vân Anh, Phạm Văn Thắng

Nghiên cứu nhằm nhận xét một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ngộ độc chì cấp liên quan đến dùng thuốc không rõ nguồn gốc ở trẻ em. Kết quả cho thấy tuổi chủ yếu dưới 5 tuổi (13/15 bệnh nhân), thuốc cam không rõ nguồn gốc (10/15), lý do dùng thuốc: tưa lưỡi (40%), biếng ăn (33%). Trẻ sống ở nông thôn và miền núi (12/15). Bố mẹ có học vấn thấp (trung học và tiểu học 93%). Triệu chứng thường gặp nôn (11/15), co giật (11/15), thiếu máu (14/15) với Hb 9,3 ± 1,2 (g/dl, tăng en¬zyme gan, tăng lactac (15/15) protein dịch não tủy tăng (8/8): 2,5 ± 1,2 (g/l). Chụp CT sọ não có hình ảnh phù não (5/11). Bệnh nhân chẩn đoán muộn sau 24 h nhập viện, không được điều trị sớm ngộ độc chì sớm. Ngộ độc chì mức độ nặng: 14/15 (93%), BLL 162 ± 62 (mcg/dl). Tỷ lệ tử vong 20%. Từ các kết quả trên có thể thấy, Ngộ độc chì nặng có thể gặp do trẻ dùng thuốc nam không rõ nguồn gốc, bệnh khó chẩn đoán, nguy cơ tử vong cao.

Xem chi tiết

Hội chứng hellp trong bệnh lý nhiễm độc thai nghén

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 5

Tác giả: Ngô Văn Tài

Nghiên cứu 320 thai phụ bị nhiễm độc thai nghén (NĐTN) tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh trong năm 2002, cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân bị hội chứng HELLP (H: Hemolysis; EL: Elevated liver enzymes; LP: Low platelets) là 31/320 (9,7%). Đây là một biến chứng nặng của hội chứng NĐTN do Weinstein mô tả lần đầu tiên tại Hoa Kỳ từ năm 1982. Cho đến nay, nguyên nhân của hội chứng này vẫn chưa được sáng tỏ. Bệnh được đặc trưng bởi sự tan máu vi thể; tăng các enzym của gan và số lượng tiểu cầu giảm. Về mặt lâm sàng, bệnh nhân có đau vùng thượng vị; buồn nôn hoặc nôn; có thể có tụ máu dưới bao gan và thường có suy thận cấp tính tạo nên nhiều biến chứng của hội chứng này. Theo nhiều tác giả thì đây là một cấp cứu sản khoa, cần đỉnh chỉ thai nghén; tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh tương đối cao. Theo nghiên cứu này thì biến chứng chảy máu do đông máu rải rác trong lòng mạch (CIVD) là 9/31 (29%); suy thận cấp là 100%; sản giật là 6/31 (19,4%); suy gan là 100%, suy tim là 4/31 (13%); không có phù phổi cấp và không có tử vong mẹ. Đối với sơ sinh: thai chết lưu trong tử cung là 9/31 (29%); thai chết chu sinh là 5/31 (14%); số thai nhi sống đều có cân nặng dưới 2500g (17/31 - 54,8%). Kết luận: Hội chứng HELLP là một biến chứng nặng của hội chứng NĐTN, là tiền sản giật nặng, cần đình chỉ thai nghén.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả điều trị xơ cứng bì khu trú bằng uống methotrexat và bôi tacrolimus

Chuyên ngành: Da liễu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Trần Lan Anh

Tên tác giả: PHẠM BÍCH NGỌC

Xơ cứng bì là bệnh thuộc nhóm bệnh tổ chức liên kết tự miễn, bệnh được chia thành 2 nhóm là xơ cứng bì hệ thống (ảnh hưởng đến nhiều cơ quan) và xơ cứng bì khu trú (ảnh hưởng đến da). Xơ cứng bì khu trú (XCBKT) là bệnh da tự miễn ít gặp. Bệnh biểu hiện quá trình viêm đặc biệt, tổn thương chủ yếu ở trung bì và m dưới da, đ i khi ảnh hưởng đến cân, cơ và xương bên dưới. Cả xơ cứng bì khu trú và xơ cứng bì hệ thống đều có: thay đổi các mạch máu nhỏ, thâm nhập viêm và quá trình xơ hóa. Khác với xơ cứng bì hệ thống (XCBHT), XCBKT hiếm gặp các biểu hiện như hiện tượng Raynaud, xơ cứng đầu ngón, biểu hiện tiêu hóa và h hấp. XCBKT ít ảnh hưởng đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, tàn tật [1]. Khoảng 10% bệnh nhân XCBKT có tổn thương gây biến dạng, co cứng đáng kể hoặc làm giảm sự tăng trưởng, gây khó khăn trong các hoạt động cá nhân [2].
Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh của XCBKT còn chưa rõ. Cho đến nay, các nghiên cứu về XCBKT cho thấy bệnh tổn thương nội m mạch máu với phản ứng viêm và hoạt hóa hệ miễn dịch, dẫn tới tăng tổng hợp collagen và các protein của lưới ngoại bào [3]. Biểu hiện lâm sàng của bệnh có hai giai đoạn là viêm (mảng đỏ hoặc tím, bề mặt nhẵn, có viền xung quanh) và xơ, teo (màu trắng ngà, mảng xơ cứng, teo) [4].
Hiện nay điều trị XCBKT còn nhiều khó khăn và chưa thống nhất. Điều trị kh ng chỉ nh m cải thiện tổn thương da, giải quyết thẩm mỹ mà còn giúp phòng tránh các biến chứng. Có nhiều phương pháp điều trị tại chỗ và toàn thân được áp dụng như bôi tacrolimus, corticoid tại chỗ, corticoid toàn thân, methotrexat... Gần đây, methotrexat (MTX) được chỉ ra là có hiệu quả và an toàn trong điều trị XCBKT ở cả người lớn và trẻ em [5], [6], [7], [8]. MTX đơn độc
12
hoặc phối hợp với corticoid còn có tác dụng thuyên giảm bệnh thời gian dài [9], [10], [11], [12]. Vì vậy, MTX là thuốc được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất trong điều trị XCBKT. Một nghiên cứu gần đây cho thấy hầu hết các bác sỹ nhi khoa ở Nam Mỹ sử dụng MTX để điều trị cho bệnh nhân XCBKT [13]. Ở Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả điều trị của MTX trong XCBKT.
Vì vậy, chúng t i tiến hành đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả điều trị xơ cứng bì khu trú bằng uống methotrexat và bôi tacrolimus ” với hai mục tiêu:
1. Khảo sát một số yếu tố liên quan, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh xơ cứng bì khu trú tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương từ 01/2014-09/2015
2. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh xơ cứng bì khu trú bằng uống methotrexat và bôi tacrolimus

Xem chi tiết

Phác đồ Điều trị Nhi khoa 2013 – BV Nhi Đồng 2

Chủ biên: TS. BS. Hà Mạnh Tuấn

Nhà xuất bản: BV Nhi Đồng 2, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2013

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Nhằm tiếp tục cung cấp đến toàn thể nhân viên y tế trong và ngoài bệnh viện một tài liệu tham khảo có giá trị trong điều trị về lĩnh vực nhi khoa. Bệnh viện Nhi đồng 2 chia sẻ đến quý nhân viên ngành y tế tham khảo phác đồ Nhi khoa 2013:

NỘI DUNG:

1. CHƯƠNG I: Tổng quát–Các triệu chứng và hội chứng

Xem chi tiết