Phân tích chi phí của tai N¹N thương tích tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì, Hà Tây

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Dương Thuý Anh

Mục tiêu: Mô tả và phân tích chi phí của những trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) được điều trị tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì trong năm 2002. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp TNTT được chữa trị tại các cơ sở y tế công từ 01/01/2002 đến 31/12/2002. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi do các bác sĩ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân ngay khi họ ra viện và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Kết quả: Tổng chi phí của các bệnh nhân TNTT năm 2002 là 498000314 đồng. Chi phí trực tiếp chiếm 78%, chi phí gián tiếp chiếm 22%. Chi phí bình quân cho một trường hợp TNTT là 207.000 đồng, tương đương với thu nhập trung bình 1 tháng của dân huyện Ba vì tại thời điểm nghiên cứu để chi trả cho chi phí này. Kết luận: Thương tích đã gây ra một gánh nặng về kinh tế cho người bị TNTT.

Xem chi tiết

Thực trạng tử vong tại huyện Kim Bảng - tỉnh Hà N

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Ngọc Hùng

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 (5,2‰) tăng 1,22 lần so với năm 2002 (4,52‰). Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm 0 – 4 tuổi và > 70 tuổi trong cả ba năm đều cao hơn các nhóm khác. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 3,26 – 4,03/103; TNNĐ: 0,53 – 0,58/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,73 – 0,58/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (99,95 đến 160,72 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (86,66 – 149,59 năm/ 103 người).

Xem chi tiết

Dinh dưỡng của trẻ em tiểu học ở một số xã thuộc 3 tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Bắc Ninh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Lê Danh Tuyên

Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của học sinh từ 6 đến 9 tuổi (n=1229) ở 6 trường tiểu học vùng nông thôn nghèo thuộc 3 tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Bắc Ninh, kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ có cân nặng/tuổi thấp là 30% (mức rất cao), chiều cao/ tuổi thấp là 27.5%, (mức trung bình) và cân nặng/chiều cao thấp là 9%, xếp ở mức cao về YNSKCĐ theo phân loại của WHO. Nhóm trẻ bị nhiễm KST có nguy cơ CN/T thấp và CC/T thấp cao gấp 2.74 và 2.41 lần nhóm trẻ không bị nhiễm KST và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0.001, X test). Thiếu dinh dưỡng là vấn đề sức khoẻ của trẻ em tiểu học ở những vùng nông thôn nghèo. Cần phải có những biện pháp can thiệp phù hợp và có hiệu quả để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ em tiểu học ở những vùng nông thôn nghèo.

Xem chi tiết

Yếu tố nguy cơ gây chậm phát triển trí tuệ ở trẻ từ 6 đến 16 tuổi tại thị xã Uông Bí tỉnh Quảng Ninh

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Đức Khoa, Lê Cự Linh, Nguyễn Thị Minh Thủy

Trẻ chậm phát triển tinh thần (CPTTT) chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số trẻ khuyết tật, do vậy phòng ngừa dạng khuyết tật này có ý nghĩa lớn đến sức khoẻ cộng đồng. Mục tiêu: Xác định các yếu tố nguy cơ gây chậm phát triển tinh thần ở trẻ từ 6 đến 16 tuổi trên địa bàn huyện Uống Bí - Quảng Ninh nhằm đề xuất biện pháp dự phòng sớm dạng khuyết tật này. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu bệnh chứng ghép cặp, mẫu nghiên cứu gồm: 89 ca bệnh là toàn bộ trẻ chậm phát triển tinh thần được phát hiện trong điều tra từng hộ gia đình và 178 ca chứng là những trẻ cùng tuổi, cùng giới, ở gần nhà trẻ bệnh. Các chỉ số nghiên cứu là các yếu tố liên quan đến trẻ, mẹ, bố và gia đình trẻ ở các giai đoạn trước, trong và sau khi sinh. Số liệu được phân tích bằng các kiểm định thống kê mô tả, phân tích hai biến ghép cặp và hồi qui logic đa biến ghép cặp. Kết quả và kết luận của nghiên cứu: có sự liên quan chặt chẽ giữa Chậm phát triển tinh thần và: tiền sử gia đình bất thường (OR = 7,18), tiền sử ngạt khi sinh (OR = 6,78), sốt cao co giật (OR = 32,84), suy dinh dưỡng nặng ở trẻ (OR = 10,93). Khuyến nghị: tăng cường truyền thông về các yếu tố nguy cơ gây chậm phát triển tinh thần, tiên lượng và xử trí tốt các cuộc đẻ, hạn chế trẻ bị ngạt sau sinh, và hướng dẫn người dân biết cách phòng các bệnh như sốt cao co giật và suy dinh dưỡng nặng.

Xem chi tiết