Nghiên cứu tình trạng albumin máu và ảnh h¬ưởng của giảm albumin máu ở bệnh nhi tại khoa Điều trị tích cực bệnh viện Nhi trung ương

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hồng Tuấn Hòa, Phạm Văn Thắng

Nghiên cứu mô tả tiến cứu 146 bệnh nhi tại khoa ĐTTC bệnh viện Nhi TW từ 02/2004 - 07/2004 về các chỉ tiêu cận lâm sàng: albumin máu, điện giải đồ, khí máu và huyết học vào thời điểm lúc nhập viện và sau khoảng 24 giờ. Khoảng trống ion âm (bao gồm kali), kiềm dư dịch ngoại bào, bicarbonate chuẩn, canxi huyết thanh được tính toán và điều chỉnh theo albumin máu. Tần suất giảm albumin máu lúc nhập viện là 56,2%; tỷ lệ tử vong nhóm giảm albumin máu là 56,1%, sự khác biệt về tỷ lệ tử vong của hai nhóm giảm và không giảm albumin máu chưa thấy có ý nghĩa thống kê. Sau khi điều chỉnh theo albumin tỷ lệ của khoảng trống ion âm tăng ( > 18 mmol/l) tăng từ 32,3% lên 46,0% (n = 189); toan chuyển hóa có khoảng trống ion âm tăng từ 62,0% lên 77,2% (n = 79). Mặt khác, cũng sau khi điều chỉnh theo albumin thì tỷ lệ canxi toàn phần huyết thanh >= 2 mmol/l tăng từ 51,2% lên 69,3% (n = 215).

Xem chi tiết

Sự phát triển âm đầu của âm tiết ở trẻ em bình thường tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 2

Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh và cộng sự

Khi đánh giá phát âm và ngôn ngữ của trẻ em nói tiếng Việt, chúng ta không có cơ sở bình thường nào để so sánh. Mục tiêu: (1) Nghiên cứu độ dài trung bình của phát ngôn ở mỗi độ tuổi. (2) Nghiên cứu quá trình hoàn thiện của các phụ âm đầu âm tiết của trẻ em tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội. Phương pháp: Mô tả cắt ngang: Ghi âm hội thoại tự do của trẻ với người thân và dùng bảng từ thử để kiểm tra. Tính độ dài trung bình của phát ngôn; âm được coi là hoàn chỉnh nếu tần suất tạo âm đúng đạt trên 85%. Kết quả: Độ dài phát ngôn tăng từ 1,36 (12 - 18th) lên 6,6 âm tiết (độ tuổi 60 - 72th). Thứ tự hoàn thiện là các âm “m, b, p, k, h... ” rồi tới các âm “ x, n, th, kh... “. Kết luận: Độ dài phát ngôn tỷ lệ thuận với độ tuổi. Các âm đầu có bộ vị phía trước, là âm tắc, âm hữu thanh được hoàn chỉnh sớm hơn so với âm phía sau, âm xát và âm vô thanh.

Xem chi tiết

Nhận xét kết quả điều trị xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày tá tràng bằng tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp với điều trị esomeprasole liều cao (8mg/h)

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Chi, Đào Văn Long

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu quả cầm máu đạt khá cao với việc nâng cao pH dịch vị > 6 trong xuất huyết tiêu hóa XHTH do loét dạ dày tá tràng. Mục tiêu: tìm hiểu tỷ lệ XHTH tái phát 72 giờ và 30 ngày, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ can thiệp phẫu thuật, can thiệp nội soi, số lượng đơn vị máu cần truyền, thời gian nằm viện và an toàn của phương pháp điều trị tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp với Esomeprazole liều cao. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: các bệnh nhân XHTH (nôn ra máu, đi ngoài phân đen) do loét dạ dày hành tá tràng và cầm máu thành công qua nội soi. Các BN được điều trị theo một phác đồ điều trị thống nhất: tiêm tĩnh mạch chậm Esomeprazole 80mg/ 30phút, sau đó truyền tĩnh mạch với tốc độ 8mg/ giờ 72 giờ. Sau liệu trình 3 ngày, duy trì uống 40mg/ ngày 27 ngày. Kết quả: nghiên cứu của chúng tôi gồm 55 bệnh nhân, 3/55 (5,5%) có XHTH tái phát trong 72 giờ và đều phải can thiệp nội soi lần 2. Không có bệnh nhân nào XHTH tái phát ở thời điểm ngày 30. Không có bệnh nhân nào can thiệp phẫu thuật trong 72 giờ và sau 30 ngày. 12/55 (21,8%) cần phải truyền máu (số đơn vị máu truyền trung bình là 1,02 ± 0,89) trong thời gian 30 ngày và thời gian nằm viện trung bình là 4,53 ± 1,13 ngày. Tác dụng phụ của phương pháp điều trị là rất ít (viêm tắc tĩnh mạch, sưng đỏ tại chỗ tiêm, phù nề), mức độ nhẹ, và thời gian ngắn không ảnh hưởng đến quá trình điều trị. Kết luận: nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sử dụng Esomeprazole liều cao là một biện pháp điều trị hỗ trợ có hiệu quả trong việc ngăn ngừa xuất huyết tiêu hóa tái phát với những ổ loét có nguy cơ cao.

Xem chi tiết

Hành vi tình dục nguy cơ và rào cản ở thanh niên thành phố Thanh Hóa năm 2011 trong phòng chống HIV/AIDS

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Đào Thị Minh An, Lê Thị Hường

Nghiên cứu nhằm mô tả hành vi tình dục nguy cơ; những khó khăn trong thực hành sử dụng bao su; thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDs ở nhóm thanh niên thành phố Thanh Hoá. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh niên thành phố Thanh Hoá có quan hệ tình dục lần đầu tiên khá sớm tập trung ở độ tuổi 18 - 19 (46%) và 20 - 22 (27%); đối tượng bàn tình gồm vợ/chồng/người yêu, đối tượng mại dâm (8,1% ) và bạn tình bất chợt (3,8 %); 37,5% và 11,8% không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với bạn tình bất chợt hoặc đối tượng bán dâm; nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục chưa cao; thực hành sử dụng bao cao su chưa tốt; rào cản trong thực hành sử dụng bao cao su gồm khó khăn không kiểm soát được sử dụng bao cao su sau uống rượu (37,2%), bạn tình có nghi ngờ khi sử dụng bao cao su (21,9%), không thoải mái khi sử dụng bao cao su (22,4%), khó khăn khi nói chuyện với bạn tình về sửdụng bao cao su (18,6%). Thanh niên còn kỳ thị nhiều đối với người nhiễm HIV/AIDs.

Xem chi tiết

Nghiên cứu hàm lượng một số hormon hướng sinh dục và sinh dục trong huyết thanh ở người sống trong vùng bị nhiễm chất da cam/dioxi

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Hà, Phạm Thiện Ngọc, Vũ Thị Phương, Trần Thị Lan Anh, Nguyễn Văn Tường

Một lượng lớn các chất trừ sâu diệt cỏ có chứa chất da cam/Dioxin mà quân đội Mỹ rải xuống nhiều vùng ở miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh hoá học có tên gọi là chiến dịch Ranch Hand đã gây nên những hậu quả nặng nề tới môi trường và sức khoẻ con người Việt Nam và những hậu quả đó vẫn còn tồn tại cho đến nay. Nghiên cứu của chúng tôi về hàm lượng của các hormon hướng sinh dục và sinh dục trong huyết thanh của những nam giới có nguy cơ bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin đã chỉ ra rằng: 1. Hàm lượng FSH và LH huyết thanh ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm có biến động với mức độ khác nhau so với các nhóm chứng FSH và LH tăng có ý nghĩa ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm tại tỉnh H và tăng không có ý nghĩa ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm tại tỉnh B. so với nhóm chứng tại thành phố P; FSH và LH của nhóm CCBMN và nhóm CCBMB không khác biệt nhau có ý nghĩa. Tuy nhiên, những cá thể có FSH và LH huyết thanh cao (12IU/L) chiếm tỷ lệ nhiều hơn ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm so với các nhóm chứng. 2. Hàm lượng testossteron huyết thanh giữa các nhóm nghiên cứu chưa có sự khác biệt nhau có ý nghĩa (p> 0,05).

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số trường hợp nhiễm nấm phổi (aspergillus fumigatus) điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hồng Thái

Nấm phổi do Aspergillus không phải là bệnh hiếm gặp, nhưng nó thường bị ẩn trong các bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Ngày nay, với tình trạng gia tăng các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ bắt gặp nấm phổi ngày một tăng. Mặt khác, với tiến bộ vượt bậc của các kỹ thuật chẩn đoán, nấm phổi ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn. Mục tiêu: (1). Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của nấm phổi. (2). Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị những trường hợp bị nấm phổi. Đối tượng nghiên cứu: 15 trường hợp nghi nấm phổi được khám lâm sàng và thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán cũng như kết quả phẫu thuật, xét nghiệm sau mổ, xác định có nấm aspergillus fumigatus ở phổi từ 1/2007 đến 1/2008. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả. Kết quả. Nam: 8 TH, nữ 7 TH.Ho máu: 9 TH (60%).Chẩn đoán chắc chắn có nấm 12 TH (80%) (sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực thấy nấm ở 5 TH (34%), 7 TH phẫu thụât cắt phổi (47%). Có 8 TH (53%) điều trị nội khoa vì không còn chỉ định mổ. Kết luận: nấm phổi không phải là 1 bệnh hiếm gặp, nó thường xảy rs trên cơ địa suy giảm miễn dịch hoặc có tổn thương lao cũ với triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho máu.Về điều trị thì phẫu thuật là phương pháp hiệu quả đối với các TH u nấm, song với các TH suy giảm miễn dịch thì điều trị nội khoa là phương pháp hữu hiệu hơn

Xem chi tiết