Hoạt động thể lực và mối liên quan với yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp ở trẻ vị thành niên thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Ngọc Minh, Hà Huỳnh Kim Yến, Tăng Kim Hồng

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp đang trở thành vấn đề sức khỏe quan trọng ở trẻ vị thành niên và hoạt động thể lực có thể lảm giảm khả năng mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để tìm mối liên quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp, từ đó đưa ra khuyến cáo về thời gian hoạt động thể lực cho trẻ vị thành niên TPHCM. Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên học sinh cấp II từ 12 - 16 tuổi ở các trường nội thành TPHCM. 617 học sinh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn theo PPS (Probability Proportionate to Size). Chúng tôi khảo sát tỉ lệ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp dựa vào định nghĩa của IDF năm 2007. Máy đo gia tốc MTI Actigraph được dùng để khảo sát tình trạng hoạt động thể lực. Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm STATA 10. Hồi qui logistic đa biến được sử dụng để tìm mối tương quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp. Kết quả cho thấy trẻ dành 45 phút/ ngày cho hoạt động thể lực vừa và nặng, trẻ nam dành thời gian hoạt động nhiều hơn trẻ nữ, tỷ lệ trẻ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch là 5,07%, trong đó, yếu tố cao huyết áp là thường gặp nhất (22,04%). Ngoài ra, chúng tôi tìm thấy có mối tương quan nghịch giữa thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng với YTNCTM phối hợp. Khi hoạt động thể lực càng tăng thì tỷ lệ mắc YTNCTM càng giảm với OR tương ứng ở các CI 95% của thời gian hoạt động thể lực tăng dần là 0,95 (CI 95%: 0,26-3,52); 0,90 (CI 95%: 0,21 - 3,91); 0,37 (CI 95%: 0,07-1,95); 0,18 (CI 95%: 0,04 - 0,85). Từ kết quả này thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng cho trẻ vị thành niên là khoảng 70 phút/ ngày để làm giảm 60% nguy cơ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên đối với trẻ thiếu hoạt động thể lực nên bắt đầu hoạt động thể lực vừa và nặng 50 phút/ sau đó từ từ đạt được mục tiêu là 70 phút/ ngày.

Xem chi tiết

Theo dõi dọc một năm bệnh sâu răng ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS An Lạc, TP Hồ Chí Minh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Bích Vân, Hoàng Tử Hùng

Nghiên cứu thuộc dự án nghiên cứu về “các yếu tố nguy cơ sâu răng, liên kết những bằng chứng cá nhân và cộng đồng” của Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM. Mục tiêu: xác định những yếu tố thật sự làm trẻ có nguy cơ cao tăng sâu răng sau một năm để từ đó xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng trong tương lai của học sinh 12 tuổi trường THCS An Lạc quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 149 học sinh 12 tuổi được khám sâu răng theo chỉ số ICDAS và thu thập các yếu tố nguy cơ lần 1 (tháng 3/2006) và được tái đánh giá tình trạng sâu răng sau 1 năm (tháng 3/2007). Các yếu tố nguy cơ được sử dụng để phân tích mối liên quan với sự thay đổi tình trạng sâu răng sau 1 năm gồm có: độ nhớt nước bọt, pH nước bọt không kích thích, lưu lượng nước bọt kích thích, khả năng đệm của nước bọt, số lượng Streptococcus mutans, số lượng Lactobacilli, pH mảng bám, tình trạng vệ sinh răng miệng, trình độ học vấn của cha, trình độ học vấn của mẹ, mức thu nhập gia đình, chế độ ăn có đường và axít giữa các bữa ăn chính, số lần chải răng, sang thương sâu răng mới chớm (đốm trắng/ nâu), có sâu răng đến ngà ban đầu. Kết quả: tình trạng sâu răng được đánh giá ở 2 ngưỡng chẩn đoán khác nhau: ở mức độ S3 (sâu từ ngà) tỷ lệ % sâu răng là 67,1% và số trung bình S3MT MR là 4,29, ở mức độ S1 (sâu men và ngà) tỷ lệ % sâu răng là 99,3% và số trung bình S1MT-MR là 13,12. Về sự gia tăng sâu răng sau 1 năm, ở mức S1, sau 1 năm có 81,2% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 4,6 mặt răng sâu mới; ở mức S3 có 49% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 1,09 mặt răng sâu mới. Khi phân tích mối liên quan giữa từng yếu tố với sự phân bố tỷ lệ % trẻ không tăng sâu răng (DS3MT - MR = 0) và tăng sâu răng cao (DS3MT-MR ≥ 2) kết quả cho thấy có 5 yếu tố liên quan có ý nghĩa: pH nước bọt không kích thích, yếu tố khả năng đệm của nước bọt, yếu tố pH mảng bám, yếu tố VSRM và yếu tố có sang thương sâu đến ngà ban đầu. Khi phân tích hồi quy đa yếu tố, chỉ có hai yếu tố là yếu tố “Khả năng đệm của nước bọt không tốt” (p = 0,023) và yếu tố “Có sang thương sâu đến ngà ban đầu” (p < 0,001) là 2 yếu tố nguy cơ thực sự làm trẻ có nguy cơ tăng tối thiểu 2 mặt răng sâu sau một năm. Xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng bao gồm 2 yếu tố: khả năng đệm của nước bọt không tốt và có sang thương sâu đến ngà ban đầu đạt được khả năng tiên đoán sâu răng rất cao với độ nhạy là 100%, độ chuyên 95,5%, PV(+) là 86,7% và PV(-) là 100%. Kết luận: nghiên cứu đã xây dựng được 1 mô thức tiên đoán sâu răng có giá trị tiên đoán sâu răng cao. Khuyến nghị: cần đánh giá cả sang thương sâu răng sớm để tránh ước lượng dưới tình trạng sâu răng. Chiến lược dự phòng sâu răng nên tập trung vào nhóm có nguy cơ sâu răng cao cụ thể là nhóm trẻ đang có sang thương sâu ngà trong miệng.

Xem chi tiết

Tỷ lệ nhiễm HPV và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18-69 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Hồ Vân Phúc, Trần Thị Lợi

Human Papillomavirus (HPV) là nguyên nhân chính gây ra ung thư cổ tử cung, một căn bệnh ác tính xếp thứ hai trong số các ung thư của phụ nữ trên toàn thế giới. Tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ tại TP HCM là bao nhiêu? Phân bố các týp HPV ra sao? Đó là những câu hỏi còn bỏ ngỏ và cũng là lý do khiến chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Xác định tỷ lệ nhiễm Human Papillomavirus và các yếu tố liên quan của phụ nữ trong độ tuổi từ 18 - 69 tại TP HCM”. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1550 phụ nữ 18 - 69 tuổi, đã có quan hệ tình dục sống tại thành phố Hồ Chí Minh được chọn vào nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu cụm ngẫu nhiên tỷ lệ với độ lớn dân số (PPS). Mỗi phụ nữ tham gia nghiên cứu đều được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi cấu trúc, được khám phụ khoa, làm PAP và thử nghiệm định tính, định týp HPV bằng kỹ thuật PCR Reveres Dot Blot. Kết quả: tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ sống tại TP HCM là 10,84% (164/1550) (khoảng tin cậy 95% 0,09 - 0,12), nhiễm các týp nguy cơ cao là 9,1% và týp nguy cơ thấp chiếm 1,74%, trong đó týp 16 chiếm tỷ lệ: 55,95% (94/168), týp 18 chiếm 38,1% (64/168), týp 58 là 11,13% (19/168), týp 11: 4,76%, týp 6: 3,57%, các týp khác tỷ lệ không cao. Các yếu tố liên quan được ghi nhận như: hút thuốc lá chủ động làm tăng tỷ lệ nhiễm HPV gấp đôi người không hút thuốc và tình trạng sử dụng bao cao su thường xuyên làm giảm tỷ lệ nhiễm HPV 3 lần so vói những phụ nữ không dùng hoặc dùng không thường xuyên. Kết luận: tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh khá cao 10,84% và sự phân bố các týp HPV cũng tương tự trên thế giới.

Xem chi tiết

Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Xác định sơ bộ giá trị phần trăm, tuyệt đối của tiểu quần thể lympho (T CD3, T CD4, T CD8, B, NK) ở nhóm người bình thường tại thành phố hồ chí Minh bằng máy FASCALIBUR

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Khiêm Hùng

Mục tiêu là xác định các giá trị bình thường của tiểu quần thể lympho, trên cơ sở đó làm số liệu tham chiếu cho bệnh nhân đến làm xét nghiệm tại viện Pasteur Thành phố H? Chí Minh và tiến hành so sánh các giá trị này với các giá trị của người Iran. Phương pháp áp dụng: lấy máu người bình thường (n=47) chống đông bằng EDTA. ủ máu với hai nhóm kháng thể của BD chứa trong hai ống khác nhau: CD3/ CD8/ CD45/ CD4 ; CD3/ CD16,56 / CD45/ CD19. Sau khi xử lý mẫu được cho qua máy FASC, phân tích, tính toán, thống kê. Cuối cùng xác định các giá trị T CD3, T CD4, T CD8, B, NK ở từng mẫu riêng biệt. Kết quả: T CD3: % (X = 68, SD: 7.94) . Tuyệt đối (X = 2412, SD: 691); T CD4: % (X = 35.7, SD: 6.2) . Tuyệt đối (X = 915, SD: 339); T CD8: % (X = 25.85, SD: 5.46) . Tuyệt đối (X = 626, SD: 245); B: % (X = 7.97, SD: 2.79). Tuyệt đối (X = 194, SD: 93); NK: % (X = 20.1, SD: 7.18) . Tuyệt đối (X = 477, SD: 203); Tỉ lệ T CD4/ T CD8: X =1.53, SD: 0.46. Kết luận: Khi so sánh với các giá trị của quần thể Iran, thì chỉ có tỉ lệ % NK của nhóm nghiên cứu là cao còn những giá trị còn lại đều thấp hơn.

Xem chi tiết

Hiệu quả giảm đau và thay đổi chức năng thận, đông máu khi phối hợp Ketorolac với Morphin PCA sau phẫu thuật cột sống

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Thơm, Nguyễn Toàn Thắng

Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên nhằm đánh giá hiệu quả giảm đau và ảnh hưởng lên chức năng thận, đông cầm máu khi phối hợp ketorolac ngắt quãng với morphin PCA sau phẫu thuật cột sống. 100 bệnh nhân được chia vào nhóm MK (ketorolac + morphin PCA, n = 50) và nhóm M (morphin PCA, n = 50). Thời gian nghiên cứu trong 48 giờ. Kết quả cho thấy, điểm VAS trung bình, tiêu thụ morphin ở nhóm MK thấp hơn nhóm M (p < 0,05). Số lượng nước tiểu, kali và creatinin máu trung bình tương đương giữa hai nhóm ở ngay sau mổ, 24, 48 giờ và ngày thứ 5 sau mổ. Không có khác biệt về chảy máu dẫn lưu và truyền máu trong 2 ngày đầu giữa hai nhóm. Hematocrit, tiểu cầu, APTT, tỉ lệ prothrombin trung bình đều thay đổi trong giới hạn bình thường và tương đương nhau giữa hai nhóm. Phối hợp ketorolac với morphin PCA làm tăng hiệu quả giảm đau, giảm tiêu thụ morphin PCA. Sự kết hợp này không làm thay đổi ý nghĩa về chức năng thận và đông cầm máu.

Xem chi tiết

Các týp gen cagA và vacA của vi khuẩn Helicobacter pylori trong ung thư dạ dày

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Thiện Trung, Quách Trọng Đức, Cao Minh Nga, Hồ Huỳnh Thùy Dương, Nguyễn Tuấn Anh, Trần Anh Minh

Mục tiêu: Nghiên cứu định týp gen cagA và các týp gen vacA của vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori), và mối liên quan đến ung thư dạ dày ở bệnh nhân khu vực miền Nam Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 12/2008 đến tháng 5/2010, tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các týp gen của vi khuẩn H. pylori bằng phương pháp multiplex PCR. Nghiên cứu bệnh chứng gồm 126 bệnh nhân ung thư được mổ cắt 2/3 dạ dày, nạo hạch R2, trong số này có 96 bệnh nhân ung thư dạ dày; và 93 bệnh nhân viêm dạ dày có H. pylori - dương tính được chẩn đoán bằng PCR, CLO test, và Giải phẫu bệnh. Kết quả: trong 162 bệnh nhân (71 ung thư và 91 viêm dạ dày), gen cagA (+) là 95,7% (150/157), ở bệnh nhân ung thư dạ dày là 100% so với 92,3% (84/91) viêm dạ dày, p = 0,018, tỷ số chênh = 1,845 (KTC 95%, 1,597 – 2,133). Gen vacA s1 là 98,1% (156/159), ở ung thư dạ dày là 100% (68/68) so với 96,7% (88/91 ) viêm dạ dày; gen vacA s2 là 3,3% (3/91) và chỉ gặp ở viêm dạ dày, với p = 0,261. Gen vacA m1 là 50,6% (81/160), ở ung thư dạ dày là 63,8% (44/69) so với 40,7% (37/91) viêm dạ dày; Gen vacA m2 là 49,4% (79/160), ung thư dạ dày là 36,2% (25/69) so với 59,3% (54/91) viêm dạ dày, p = 0,004, tỷ số chênh = 2,569 (KTC 95%, 1,348 – 4,895). Liên quan giữa gen cagA và vacA trên 157 bệnh nhân (66 ung thư dạ dày, 2 cagA (+) không xác định m, và 3 cagA (+) không xác định s; và 91 viêm dạ dày) đã được xác định. Ở 66 bệnh nhân ung thư dạ dày, cagA (+) là 100%, các týp gen vacA s1/m1 ở 63,6%, và vacA s1/m2 là 36,4%. Ở 91 viêm dạ dày, cagA (+) là 92,3% và cagA (-) là 7,7%. Các týp gen vacA trong nhóm này lần lượt là s1/m1 (42%), s1/m2 (55%) và s2/m2 (3%). Trong các trường hợp cagA (+), có sự khác biệt của các týp gen vacA s1/ m1 và vacA s1/m2 giữa ung thư và viêm dạ dày, p = 0,025, tỷ số chênh = 2,118 (KTC 95%, 1,094 – 4,1). Kết luận: gen cagA (+) có ở tất cả các trường hợp ung thư dạ dày, và cagA (-) chỉ gặp ở viêm dạ dày. Gen cagA (+) kết hợp với kiểu gen vacA m1 của các chủng H. pylori. Đặc biệt, ở chủng H. pylori có gen cagA (+) và gen vacA s1/m1 cho thấy nguy cơ cao liên quan đến bệnh ung thư dạ dày.

Xem chi tiết

Đánh giá tiến triển bệnh glôcôm góc mở nguyên phát”

Chuyên ngành: Mắt

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Thị Thái

Tên tác giả: Nguyễn Thị Hà Thanh

Những kết luận mới của luận án:

1. Qua đánh giá tiến triển bệnh glôcôm bằng phần mềm phân tích tiến triển GPA và tiêu chuẩn NTGS, kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù đã được điều trị  nhưng vẫn có 18/121 (14,9%) các trường hợp bệnh tiến triển, trong đó có 5 mắt tiến triển chuyển sang giai đoạn bệnh nặng hơn. Luận án đã chứng minh được vai trò của đánh giá tiến triển bệnh glôcôm trong việc phát hiện sớm tổn hại tiến triển cũng như tiên lượng được mức độ tiến triển dựa vào tốc độ tiến triển bệnh. Từ kết quả này, người thầy thuốc sẽ có những định hướng sớm trong điều trị để kịp thời ngăn chặn tiến triển bệnh, bảo tồn chức năng thị giác cho bệnh nhân.

2. Luận án đã chứng minh được mối liên quan rõ ràng của tiến triển bệnh với các yếu tố nguy cơ như giai đoạn bệnh (giai đoạn muộn có nguy cơ tiến triển gấp 4,6 lần giai đoạn sớm),  nhãn áp (nhãn áp < 14mmHg là mức an toàn cho cả nhóm đối tượng nghiên cứu). Từ đó, việc xác định được mức nhãn áp an toàn trong quá trình điều trị là vô cùng quan trọng giúp hạn chế tiến triển bệnh, đồng thời thái độ điều trị tích cực cần phải đặt ra ở những giai đoạn bệnh muộn. 

Xem chi tiết