Phân lập các chủng virus HPV gây u nhú phổ biến tại Thái Nguyên năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Vũ Thị Hoàng Lan

Một trong các biện pháp dự phòng ung thư cổ tử cung là tiêm vắc xin phòng virus HPV. Tuy nhiên tiêm vắc xin chỉ có thể phòng được một số chủng HPV. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tỷ lệ hiện nhiễm và các chủng HPV phổ biến tại Thành phố Thái Nguyên để cung cấp thông tin cho các hoạt động phòng chống ung thư cổ tử cung. Với thiết kế cắt ngang, mẫu gồm 1000 phụ nữ đã lập gia đình độ tuổi từ 18 - 65 tại Thái nguyên năm 2011, nghiên cứu đã phỏng vấn, khám và lấy mẫu xét nghiệm HPV, Pap smear. Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện nhiễm HPV cổ tử cung của phụ nữ đã lập gia đình tuổi từ 18 - 65 tại Thành phố Thái Nguyên là 9,2%. Phần lớn các phụ nữ dương tính với HPV đều nhiễm chủng nguy cơ cao, có khả năng gây ung thư cổ tử cung. Các chủng HPV phổ biến nhất trong mẫu nghiên cứu là 3 chủng nguy cơ cao HPV16, HPV18, và HPV58 và 2 chủng HPV nguy cơ thấp là HPV81 và HPV11. Tỷ lệ hiện nhiễm HPV tại Thái Nguyên là khá cao. Các chương trình dự phòng ung thư cổ tử cung tại Thái nguyên nên sử dụng các số liệu từ nghiên cứu để lập kế hoạch cho các hoạt động can thiệp trong tương lai.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tình trạng albumin máu và ảnh h¬ưởng của giảm albumin máu ở bệnh nhi tại khoa Điều trị tích cực bệnh viện Nhi trung ương

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hồng Tuấn Hòa, Phạm Văn Thắng

Nghiên cứu mô tả tiến cứu 146 bệnh nhi tại khoa ĐTTC bệnh viện Nhi TW từ 02/2004 - 07/2004 về các chỉ tiêu cận lâm sàng: albumin máu, điện giải đồ, khí máu và huyết học vào thời điểm lúc nhập viện và sau khoảng 24 giờ. Khoảng trống ion âm (bao gồm kali), kiềm dư dịch ngoại bào, bicarbonate chuẩn, canxi huyết thanh được tính toán và điều chỉnh theo albumin máu. Tần suất giảm albumin máu lúc nhập viện là 56,2%; tỷ lệ tử vong nhóm giảm albumin máu là 56,1%, sự khác biệt về tỷ lệ tử vong của hai nhóm giảm và không giảm albumin máu chưa thấy có ý nghĩa thống kê. Sau khi điều chỉnh theo albumin tỷ lệ của khoảng trống ion âm tăng ( > 18 mmol/l) tăng từ 32,3% lên 46,0% (n = 189); toan chuyển hóa có khoảng trống ion âm tăng từ 62,0% lên 77,2% (n = 79). Mặt khác, cũng sau khi điều chỉnh theo albumin thì tỷ lệ canxi toàn phần huyết thanh >= 2 mmol/l tăng từ 51,2% lên 69,3% (n = 215).

Xem chi tiết

Một số yếu tố nguy cơ nhiễm hp ở trẻ em một số dân tộc Tây Nguyên năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Số 2

Tác giả: Lê Thọ, Nguyễn Văn Bàng, Hoàng Minh Hằng, Ngô Văn Toàn, Hoàng Thị Thu Hà

Nghiên cứu được thực hiện trên 1,186 trẻ em từ 6 tháng đến 15 tuổi tại Tây Nguyên với mục tiêu phân tích một số yếu tố nguy cơ của tình trạng nhiễm H. pylori ở trẻ em các dân tộc sống trên cao nguyên này. Kết quả cho thấy những trẻ đã từng sống tập thể có nguy cơ nhiễm H. pylori cao gấp 1,5 lần những trẻ chưa từng sống tập thể. Những trẻ em có tiền sử hoặc đang mắc bệnh đường tiêu hoá có nguy cơ nhiễm H. pylori cao gấp 1,4 lần những trẻ em khác. Những trẻ em sử dụng kháng sinh trên 4 lần/năm có nguy cơ nhiễm H. pylori thấp hơn 0,6 lần những trẻ em khác. Những trẻ sống trong các gia đình có sử dụng hố xí có tỷ lệ nhiễm H. pylori thấp hơn trẻ sống trong các gia đình không sử dụng hố xí. Trên mô hình phân tích hồi qui đa biến, chỉ có những trẻ em sử dụng kháng sinh dưới 3 lần trong vòng 12 tháng qua và trẻ em đã từng sống ở tập thể là có nguy cơ nhiễm H. pylori cao hơn những trẻ em khác từ 1,5 - 1,8 lần. Cần phân tích thêm các yếu tố từ cha mẹ của trẻ em để có những thông tin đầy đủ hơn về các yếu tố nguy cơ của nhiễm H. pylori trên trẻ em.

Xem chi tiết

Nhận xét kết quả điều trị xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày tá tràng bằng tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp với điều trị esomeprasole liều cao (8mg/h)

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Chi, Đào Văn Long

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu quả cầm máu đạt khá cao với việc nâng cao pH dịch vị > 6 trong xuất huyết tiêu hóa XHTH do loét dạ dày tá tràng. Mục tiêu: tìm hiểu tỷ lệ XHTH tái phát 72 giờ và 30 ngày, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ can thiệp phẫu thuật, can thiệp nội soi, số lượng đơn vị máu cần truyền, thời gian nằm viện và an toàn của phương pháp điều trị tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp với Esomeprazole liều cao. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: các bệnh nhân XHTH (nôn ra máu, đi ngoài phân đen) do loét dạ dày hành tá tràng và cầm máu thành công qua nội soi. Các BN được điều trị theo một phác đồ điều trị thống nhất: tiêm tĩnh mạch chậm Esomeprazole 80mg/ 30phút, sau đó truyền tĩnh mạch với tốc độ 8mg/ giờ 72 giờ. Sau liệu trình 3 ngày, duy trì uống 40mg/ ngày 27 ngày. Kết quả: nghiên cứu của chúng tôi gồm 55 bệnh nhân, 3/55 (5,5%) có XHTH tái phát trong 72 giờ và đều phải can thiệp nội soi lần 2. Không có bệnh nhân nào XHTH tái phát ở thời điểm ngày 30. Không có bệnh nhân nào can thiệp phẫu thuật trong 72 giờ và sau 30 ngày. 12/55 (21,8%) cần phải truyền máu (số đơn vị máu truyền trung bình là 1,02 ± 0,89) trong thời gian 30 ngày và thời gian nằm viện trung bình là 4,53 ± 1,13 ngày. Tác dụng phụ của phương pháp điều trị là rất ít (viêm tắc tĩnh mạch, sưng đỏ tại chỗ tiêm, phù nề), mức độ nhẹ, và thời gian ngắn không ảnh hưởng đến quá trình điều trị. Kết luận: nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sử dụng Esomeprazole liều cao là một biện pháp điều trị hỗ trợ có hiệu quả trong việc ngăn ngừa xuất huyết tiêu hóa tái phát với những ổ loét có nguy cơ cao.

Xem chi tiết

Kết quả điều trị bệnh u nguyên bào nuôi có sử dụng hoá chất tại bệnh viện phụ sản trung ương trong 3 năm (2003 - 2005)

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4

Tác giả: Phạm Thị Nga, Nguyễn Quốc Tuấn

U nguyên bào nuôi (UNBN) là bệnh hay gặp sau thai trứng. Điều hoá chất là bắt buộc dù có cắt tử cung hay không, với nhiều phác đồ hoá chất được áp dụng vào điều trị đã giúp tỷ lệ khỏi bệnh ngày càng cao. Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị u nguyên bào nuôi tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương. Sử dụng bảng điểm tiên lượng bệnh của WHO, để đánh giá khách quan kết quả điều trị, từ đó áp dụng để tăng hiệu quả điều trị, giảm nguy cơ kháng thuốc và tái phát bệnh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu các bệnh nhân u nguyên bào nuôi được điều trị bằng hóa chất tại viện Phụ Sản Trung Ương. Kết quả: 99,6% các trường hợp u nguyên bào nuôi trong giai đoạn này được điều trị khỏi, trong đó 56,1% bảo tồn được tử cung. Có 88,9% được điều trị đơn thuần từ đầu, còn lại 11,1% dùng EMA - CO. Có 23,5% ca điều trị MTX từ đầu bị kháng thuốc phải chuyển phác đồ EMA - CO, trong đó nhóm có số điểm ³ 8 nguy cơ kháng thuốc đơn thuần cao hơn nhóm có số điểm ≤ 4 với 0R = 6,5 ( 95% CI = 1,29 – 35,9). Nhóm 5 – 7 điểm thì nguy cơ kháng thuốc cao hơn nhóm hơn nhóm ≤ 4 điểm với 0R = 2,9 (95% CI= 1,4 – 5,07). Kết luận: Chọn lựa phác đồ hóa chất nên dựa vào bảng tiên lượng của WHO.

Xem chi tiết