Bước đầu đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp Virus viêm gan B và virus viêm gan C trên bệnh nhân HIV (+) tại bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Vũ Tường Vân, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Điệp và Lê Khánh Trâm

Để đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp giữa vius viêm gan B, vius viêm gan C và HIV cũng như ảnh hưởng của đường lây truyền đối với những nhiễm trùng phối hợp này chúng tôi đã tiến hành kiểm tra HBsAg và antiHCV trên 427 trường hợp HIV (+) được phát hiện tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2002 kết quả cho thấy: 1. Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu có anti HCV (+) là 81,03%.Tỷ lệ HBsAg (%) ở bệnh nhân HIV (+) là 18,26%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm 2 loại virus viêm gan B & C ở nhóm đối tượng này là rất lớn (p < 0.0001). 2. Tỷ lệ đồng nhiễm cả virus viêm gan B, C ở bệnh nhân HIV (+) là 14,9%. 3. Tiêm chích ma túy là nguy cơ hàng đầu của đồng nhiễm HIV và HCV. Tỷ lệ nhiễm HCV ở bệnh nhân HIV do tiêm chích chiếm 88,5%; ở bệnh nhân vừa tiêm chích vừa quan hệ tình dục là 83,67% và ở nhóm nhiễm HIV do quan hệ tình dục tỷ lệ nhiễm HCV là 47,44%.

Xem chi tiết

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân sa sút trí tuệ

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Thị Thủy, Vũ Thị Thanh Huyền

Nghiên cứu nhằm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kháng insulin ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Nghiên cứu được thực hiện trên hai nhóm: nhóm bệnh: 60 bệnh nhân sa sút trí tuệ được chẩn đoán theo tiêu chuẩn DSM - IV - TR; nhóm chứng: 60 bệnh nhân. Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được khám lâm sàng, làm các trắc nghiệm thần kinh tâm lý cần thiết và định lượng insulin. Kết quả cho thấy nguy cơ mắc sa sút trí tuệ ở các bệnh nhân có kháng insulin, BMI ≥ 23, rối loạn lipid cao hơn các bệnh nhân không kháng insulin (OR = 2,25, 95% CI: 1,05 - 4,84), BMI < 23 (OR = 3,22, 95%CI: 1,52 - 6,79) và không có rối loạn lipid (OR = 2,62, 95%CI: 1,24 - 5,49). Có mối tương quan thuận giữa chỉ số HOMA - IR với chỉ số vòng bụng, cholesterol toàn phần và LDL - C (r > 0; p < 0,05). Có mối liên quan chặt giữa tăng triglyceride, giảm HDL - C, tăng LDL - C và bệnh sa sút trí tuệ (p < 0,05). Tóm lại, kháng insulin và rối loạn lipid và làm tăng nguy cơ mắc sa sút trí tuệ do vậy khảo sát sự biến đổi nồng độ của các chỉ số này rất có giá trị trong việc chẩn đoán sớm sa sút trí tuệ và theo dõi tiến triển bệnh.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Hcv - rna và kiểu gen virus viêm gan c (hcv) ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (tnt) tại Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Vũ Thị Tường Vân

Xác định tỷ lệ HCV - RNA ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (TNT) có anti - HCV (+) và mô tả kiểu gen của virus viêm gan C ở bệnh nhân chạy TNT có HCV - RNA (+). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành trên 70 bệnh nhân chạy thận nhân tạo có anti - HCV (+) tại bệnh viện Bạch Mai trong thời gian 2 năm (2006 – 2008). Phương pháp nghiên cứu điều tra ngang, HCV - RNA được xác định bằng kỹ thuật Real - time RT - PCR với bộ sinh phẩm COBAS® AmpliPrep/ COBAS® TaqMan® HCV Test. (Roche). Kiểu gen HCV được xác định bằng kỹ thuật Real – time RT - PCR. Kết quả và kết luận: Trong số 70 bệnh nhân chạy TNT có anti - HCV (+), 64 trường hợp có HCV - RNA chiếm 91,43% cho thấy mối nguy cơ lớn lây nhiễm chéo cho những bệnh nhân ở cùng một trung tâm lọc máu. 36 trường hợp (56,25%) có tải lượng virus (viral load - ước lượng số virus có trong máu) > 106 copies/ml. Kiểu gen 6 (50%) chiếm tỷ lệ cao nhất, kiểu gen 1 (43,75%), có 4 trường hợp nhiễm phối hợp hai kiểu gen: một trường hợp nhiễm phối hợp 1 và 2 (1,56%) và 3 trường hợp nhiễm phối hợp 6 và 2 (4,69%).

Xem chi tiết

Đánh giá tình trạng rối loạn Lipid máu và một số yếu tố ảnh hưởng ở người trên 40 tuổi tại tỉnh Nam Định và Hà Nam.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Lê Thế Trung, Đỗ Đình Xuân, Trần Văn Long

Rối loạn lipid máu hiện đang là một vấn đề được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm, đồng thời nó cũng là nguyên nhân và cũng là hậu quả của một số bệnh mãn tính không lây nguy hiểm khác như: tai biến mạch máu não, đái tháo đường, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, thừa cân béo phì,...Hiện nay các bệnh mãn tính không lây ngày một gia tăng trên khắp thế giới và ở Việt Nam. Ở các nước phát triển, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch chiếm tới 48% [1]. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có phân tích 418 người có độ tuổi từ 40 trở lên đang sinh sống tại tỉnh Nam Định và Hà Nam. Kết quả: tuổi trung bình ở nữ là 56,6 ± 11,9, nam là 54,2 ± 9,9.Tuổi trung bình của đối tượng là người Nam Định là 57,2 ± 12,7, Hà Nam là 54,4 ± 9,6. Đối tượng có sức khỏe bình thường chiếm 59,1%, số có bệnh theo kết luận của khám lâm sàng chiếm tỷ lệ cao 39,9%. Tại một cộng đồng mà có tới 39,9% đối tượng có bệnh thì vấn đề phòng và chữa bệnh tại đó cần phải đặc biệt quan tâm. Trong số 39,9% số đối tượng có bệnh thì số đối tượng có bệnh về tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến đó là bệnh về cơ xương khớp. Đối tượng có rối loạn LDL-C chiếm tỷ lệ cao nhất 46,9%, số đối tượng có rối loạn CT là 35,2%, TG là 34,2%. Chúng tôi thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) về giữa nhóm đối tượng có rối loạn và không có rối loạn. Nghiên cứu tình trạng rối loạn HDL-C máu ở bệnh nhân có hội chứng mạch vành cấp cho thấy, tỷ lệ tử vong ở nhóm có rối loạn HDL-C cao (p < 0,05). Tỷ lệ có rối loạn lipid máu ở nhóm bị béo phì là 80,8%, có rối loạn không bị béo phì là 58,9%. Người có béo phì có nguy cơ bị rối loạn lipid máu cao hơn những người không có béo phì là 2,93 lần (CI: 1,79 - 4,81). Ở bệnh nhóm đối tượng có thừa cân béo phì tỷ lệ bị rối loạn lipid máu là 80,77%, nhóm không có béo phì tỷ lệ bị rối loạn lipid máu là 58,88%. Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm đối tượng có béo phì và không có béo phì. Kết luận: qua nghiên cứu 418 đối tượng trong đó nam là 157 chiếm 37,6%, nữ 261 chiếm 62,4%, chúng tôi nhận thấy như sau: 22,49% có rối loạn 1 chỉ số, 19,14% rối loạn có kết hợp 2 chỉ số, 14,35% kết hợp 3 chỉ số; 7,89% có rối loạn kết hợp 4 chỉ số và kết hợp rối loạn cả 5 chỉ số là 1,67%. Nữ giới có tỷ lệ rối loạn cao hơn ở nam giới. Người thừa cân béo phì có nguy cơ bị rối loạn lipid cao hơn người bình thường 2,93 lần (1,79 - 4,81). Uống rượu/bia có nguy cơ bị rối loạn lipid máu cao hơn 3,46 lần so với những người không uống rượu/ bia.

Xem chi tiết