Đặc điểm lâm sàng bệnh đỏ da toàn thân chưa rõ căn nguyên

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Số 1

Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thùy, Trần Văn Tiến

Nghiên cứu nhằm khảo sát một số yếu tố dịch tễ và đặc điểm lâm sàng của bệnh đỏ da toàn thân chưa rõ căn nguyên (ĐDTTCRCN). Kết quả cho thấy có 57 bệnh nhân ĐDTTCRCN được nghiên cứu tại bệnh viện Da liễu Trung ương từ 10/2008 đến 7/2009, chiếm 4,16% bệnh nhân điều trị nội trú và 47,1% bệnh nhân ĐDTT. Tuổi mắc bệnh trung bình 70 ± 9,5 tuổi, trên 60 tuổi chiếm 79%. Chủ yếu gặp ở nam giới, tỷ lệ nam/nữ: 9/1. Triệu chứng lâm sàng chính là đỏ da, bong vảy toàn thân (100%), ngứa (100%), rối loạn thân nhiệt (89,5%), phù (84,2%), dày sừng lòng bàn tay, bàn chân (64,9%), nứt kẽ, tiết dịch (75,4%), thương tổn móng (50,9%) và hạch ngoại vi to (12,3%). Kết quả cho thấy ĐDTTCRCN là bệnh da nặng, ngoài thương tổn da còn có những rối loạn toàn thân, thường gặp ở nam giới lớn tuổi, hay tái phát.

Xem chi tiết

Định nhóm kháng nguyên tiểu cầu ở quần thể người Kinh, miền Trung Việt Nam

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Bạch Khánh Hoà, Trần Thị Sinh, Lê Thị Kim Tuyến

Trên bề mặt màng tiểu cầu người có các kháng nguyên đặc hiệu tiểu cầu (HPA- Human-Platelet-Antigen) liên quan đến một số hội chứng suy giảm tiểu cầu mắc phải. Tần số gen HPA có sự sai khác giữa các quần thể. Trong nghiên cứu này, bằng phương pháp PCR-SSP (Polymerase Chain Reaction- Specific Sequence Primer), chúng tôi bước đầu xác định tần số HPA của quần thể người Kinh sống ở miền Trung Việt Nam. Tần số kiểu gen quan sát được như sau: 0.977 HPA-1a/a, 0.023 HPA-1a/b, 0.000 HPA-1b/b; 0.827 HPA-2a/a, 0.161 HPA-2a/b, 0.011 HPA2b/b; 0.276 HPA3-a/a, 0.552 HPA-3a/b, 0.173 HPA 3b/b; 0.920 HPA-5a/a, 0.080 HPA 5-a/b, 0.000 HPA 5b/b, còn với HPA-4 toàn bộ 87 mẫu biểu hiện kiểu gen HPA-4a/a.

Xem chi tiết

Phân bố mô bệnh học một số biến thể hiếm gặp của u màng não nguyên phát

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Văn Hưng, Nguyễn Phúc Cương, Phạm Kim Bình

U màng não là loại u hiếm gặp, chiếm khoảng 13 – 26% các u nội sọ nguyên phát. gần đây, ba biến thể u màng não gồm tế bào sáng, dạng u nguyên sống và dạng cơ vân mới được ghi nhận như những thực thể bệnh học thực sự, do đó, mô bệnh học của chúng còn ít được nghiên cứu ở việt nam. mục tiêu: nghiên cứu phân bố ba typ u màng não này theo tuổi, giới cũng như theo typ mô bệnh học của who năm 2000 về các u của hệ thần kinh trung ương. đối tượng nghiên cứu: trong số 312 u màng não được phẫu thuật tại bệnh viện việt - đức trong khoảng thời gian 7/2004 – 6/2006, 11 u màng não thuộc typ hiếm gặp như typ tế bào sáng (5 ca), typ dạng u nguyên sống (4 ca) và typ dạng cơ vân (2 ca). kết quả: bệnh nhân gồm 6 nữ và 5 nam. tỷ lệ nữ:nam ở người lớn là 2:1. tuổi bệnh nhân vào lúc phẫu thuật từ 14 đến 70 tuổi (trung bình 41 tuổi). u màng não tế bào sáng về vi thể gồm các dây tế bào đa diện, sáng, giàu glycogen và có thể có cấu trúc xoáy lốc mờ nhạt đặc trưng. u màng não dạng u nguyên sống gồm những vùng có cấu trúc giống với u nguyên sống về mô học, với những bè tế bào bị hốc hoá, ưa eozin nằm trên nền chất dạng nhầy. u màng não dạng cơ vân gồm các dây tế bào dạng cơ vân tạo thành vùng lớn hoặc ở dạng khảm. tế bào u có hình tròn với nhân thường lệch tâm, rõ hạt nhân, bào tương ưa eozin rất giống thể vùi. kết luận: u màng não là loại u hiếm gặp. ở người lớn, bệnh có xu hướng thiên về nữ giới (tỷ lệ nữ: nam là 2:1). 11 u màng não thuộc typ hiếm gặp gồm typ tế bào sáng: 5 ca (1,6%), dạng u nguyên sống: 4 ca (1,3%) và typ dạng cơ vân: 2 ca (0,6%). tế bào u có vimentin (+), ema (+), ck (-), gfap (-).

Xem chi tiết

Điểm tin Y học quốc tế (International Medical news)

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 3

Tác giả: Phạm Thị Minh Đức

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là tình trạng bệnh có rối loạn thông khí tắc nghẽn mà không có khả năng hồi phục hoàn toàn. Sự rối loạn thông khí thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi do các phân tử hoặc khí độc hại. Năm 1990 BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong xếp hàng thứ 6 với 2,2 triệu người chết, đến năm 2020 BPTNMT sẽ là nguyên nhân gây chết đứng hàng thứ 3

Xem chi tiết

Nồng độ phospho và canxi huyết tương ở bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 01

Tác giả: Nguyễn Thị Hoa

Rối loạn phospho và canxi toàn phần (canxiTP) huyết thường gặp ở bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối. Nghiên cứu nhằm xác định nồng độ phospho và canxiTP ở bệnh nhân suy thận mạn và tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ phospho với một số chỉ số khác ở bệnh nhân suy thận. Kết quả nghiên cứu cho thấy: 1)Ở nhóm bệnh nhân suy thận mạn lọc máu chu kỳ, nồng độ phospho huyết tương là 2,09 ± 0,46 mmol/L, nồng độ canxiTP huyết tương là 2,11 ± 0,20 mmol/L, tích số canxi - phospho huyết tương là 4,40 ± 1,05 mmol2/L2. Tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ canxi, phospho, tích số canxi - phospho huyết tương đạt mục tiêu theo hướng dẫn của K/DOQI tương ứng là 58%, 30% và 33,3%. Có 26,3% bệnh nhân đạt cả 3 mục tiêu về nồng độ canxiTP, phospho, tích số canxi - phospho huyết tương, có 5,8% không đạt bất cứ mục tiêu nào. 2) Ở nhóm bệnh nhân suy thận lọc máu chu kỳ, nồng độ phospho huyết tương có tương quan thuận mức độ chặt, rất chặt với nồng độ creatinin cũng như tích số canxi-phospho huyết tương. Tăng nồng độ phospho, tích số canxi - phospho huyết tương và giảm nồng độ canxiTP ở nhóm bệnh nhân suy thận lọc máu chu kỳ. Nồng độ phospho, tích số canxi-phospho huyết tương có tương quan chặt, rất chặt với nồng độ creatinin huyết tương.

Xem chi tiết

Bước đầu nghiên cứu kháng nguyên E và kháng nguyên PreM của virus Dengue type 2 phân lập tại tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 5

Tác giả: Trương Uyên Ninh và CS

Đoạn DNA chứa vùng vở - E và tiển vỏ-PreM của virut Dengue type 2 được nhân lên bằng kỹ thuật TR-PCR với số RNA được triết xuất từ tế bào muỗi Aedes albopictus dongf C6/36 đã bị gây nhiễm. Đoạn DNA dài 2235 bp mang vùng gen mã hoá kháng nguyên PreM và E dài 1983 bp. Trình tự gen tách dòng đã được đăng ký trong Ngân hàng Dữ liệu Quốc tế với số đăng ký: AJ 574886. Một đoạn gen mã hoá kháng nguyên E và PrM với độ dài 1200 bp đã được thiết kế để biểu hiện ở E. Coli với hệ vectơ pBAD-TOPO. Theo tính toán ban đầu thì protein tái tổ hợp là một protein dung hợp E-terminal với 14 amino acid (aa) tiếp với 127 aa của protein PreM, 273 aa của protein E; ở vùng terminal C có 22 aa của vùng epitope V 5 và 6 histidine của đuôi His-tag. Qua quá trình nghiên cứu về tái tổ hợp protein với tái hợp khác nhau của L-arabinose (thu thập cuối cùng là 0,002, 0,02 và 0,2%) với thời gian khác nhau 1,2,3 và 4 giờ (lắc 200r/phút ở 370C). Protein tái tổ hợp được phát hiện bằng SDS-PAGE và Western blot với kháng thể kháng V5. Với protein tái tổ hợp thu được thấp thì không thể phát hiện được bằng SDS-PAGE, tuy nhiên nó lại được phát hiện bằng kỹ thuật Western blot với sự tập hợp của L-arabinose sau 4 giờ cảm ứng.

Xem chi tiết

Đánh giá tính an toàn của vắc xin Cervarix phòng ung thư cổ tử cung trên phụ nữ tình nguyện Việt Nam

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Văn Phủng, Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Công Viên, Nguyễn Thuỷ An, Hans L Bock

Mục tiêu: đánh giá sự xuất hiện các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng xảy ra trong 7 tháng sau khi tiêm vắc xin Cervarix ở phụ nữ trong độ tuổi 25 - 40. Đánh giá sự xuất hiện các tác dụng không mong muốn tại chỗ và toàn thân trong 30 ngày sau mỗi mũi tiêm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, mở, không có nhóm chứng, trên 208 phụ nữ có chồng, khoẻ mạnh, từ 25 - 40 tuổi, theo phác đồ tiêm 0, 1, 6 tháng nhằm đánh giá tính an toàn của vắc xin phòng ung thư cổ tử cung do công ty GlaxoSmithKline (GSK) Biologicals - Bỉ sản xuất. Kết quả: không có đối tượng nào có các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng xảy ra trong quá trình nghiên cứu; Các tác dụng không mong muốn tại chỗ và toàn thân hầu hết ở mức độ nhẹ các triệu chứng tại chỗ chủ yếu là đỏ, sưng, đau với tỷ lệ tương ứng là 35,6%, 33,7% và 63,5%; Phản ứng toàn thân hay gặp nhất là mệt mỏi với tỷ lệ 30,7% tiếp theo là đau đầu (17,2%) và đau cơ (13,5%); Các phản ứng sốt, đau khớp, hội chứng dạ dày ruột, mày đay gặp với tỷ lệ tương ứng là 6,6%; 3,7%; 0,8%; 0,4%. Kết luận: nghiên cứu đã chỉ ra rằng vắc xin ung thư cổ tử cung của GSK đã được an toàn ở phụ nữ Việt Nam tuổi từ 25 - 40.

Xem chi tiết