Nghiên cứu độc tính cấp và bán trường diễn của cao Hoàng kinh trên động vật thực nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 03

Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tú, Đỗ Thị Phương, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương, Phạm Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Ngọc Lan

Nghiên cứu xác định độc tính cấp và LD50 của cao Hoàng kinh đồng thời đánh giá ảnh hưởng của cao Hoàng kinh lên trọng lượng, chức năng tạo máu, chức năng và hình thể gan thận trên thỏ thực nghiệm. Kết quả nghiên cứu chưa hát hiện thấy cao Hoàng kinh có độc tính cấp và chưa xác định được LD50 trên chuột nhắt trắng theo đường uống. Sau 8 tuần, thỏ được uống cao Hoàng kinh với liều 3,2g dược liệu/ kg /ngày (liều có tác dụng tương đương trên người, tính theo hệ số 4) và với liều 9,6g dược liệu /kg /ngày (gấp 3 lần liều tương đương trên người) không làm ảnh hưởng đến thể trạng, chức năng tạo máu của thỏ; không làm thay đổi kết quả đánh giá chức năng gan, chức năng thận; không gây tổn thương về hình thái đại thể và vi thể các cơ quan gan, thận thỏ.

Xem chi tiết

Đánh giá tình trạng thị giác hai mắt sau phẫu thuật lác cơ năng người lớn

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Chí Dũng , Trần Huy Đoàn

Sự cải thiện thị giác 2 mắt (TG2M) sau phẫu thuật lác người lớn đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới, nhưng ở nước ta chưa nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: đánh giá tình trạng TG2M và các yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi TG2M sau mổ lác cơ năng người lớn. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc, thực hiện tiến cứu tại bệnh viện Mắt Trung ương từ 10/2005 đến 7/2006. Kết quả: 16,1% bệnh nhân (BN) có thị lực sau mổ tăng từ 0,1 lên 0,4; có 46,2% có cải thiện TG2M sau mổ lác 6 tháng, trong đó BN có đồng thị tăng từ 9,2% lên 13,2%, có đồng thị + hợp thị tăng từ 16,9% lên 47,4%, có cả 3 mức độ TG2M tăng từ 0% lên 10,5%. Tình trạng tương ứng võng mạc bình thường tăng từ 23,0% lên 56,9%. Về các yếu tố ảnh hưởng tới phục hồi TG2M: 1. Tuổi xuất hiện lác: TG2M phục hồi ở 60% số BN bị lác sau 9 tuổi, phục hồi kém nhất (15,4%) ở BN lác xuất hiện sớm trước 6 tháng tuổi; 2. Sự ổn định độ lác: phục hồi TG2M 50,9% ở nhóm lác ổn định; 3.Kết quả chỉnh lệch trục nhãn cầu tốt: phục hồi TG2M ở 50,9%; 4. Lệch khúc xạ 2 mắt: cải thiện TG2M ở 62,9% nhóm không có lệch khúc xạ. Kết luận: thị lực của mắt mổ và TG2M có thể được cải thiện khá tốt sau mổ lác cơ năng người lớn.

Xem chi tiết

Tác dụng giảm đau, chống viêm của viên nang Hoàng kinh trên động vật thực nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Tú, Đỗ Thị Phương, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương, Phạm Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Ngọc Lan

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng giảm đau, chống viêm của viên nang Hoàng Kinh trên thực nghiệm. Kết quả cho thấy: Viên nang Hoàng Kinh với liều 9,6g/kg/ngày và 28,8g/kg/ngày không có tác dụng giảm đau khi nghiên cứu trên mô hình gây đau bằng kích thích nhiệt và máy đo ngưỡng đau trên chuột nhắt trắng. Viên nang Hoàng Kinh liều 9,6g/kg/ngày và 28,8g/kg/ngày có tác dụng giảm đau rõ rệt khi nghiên cứu bằng phương pháp gây quặn đau bằng acid acetic. Viên nang Hoàng Kinh liều 5,6 g/kg có tác dụng chống viêm cấp ở thời điểm 6h trên mô hình gây phù chân chuột cống trắng bằng carragenin. Viên nang Hoàng Kinh liều 9,6 g/kg/ngày và 28,8 g/kg/ngày có tác dụng chống viêm mạn tương đương methylprednisolon liều 10mg/kg trên mô hình gây viêm màng bụng chuột.

Xem chi tiết

Đánh giá chất lượng thị giác của người khiếm thị

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền

Mục tiêu: đánh giá chất lượng thị giác của những người khiếm thị và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng thị giác của người khiếm thị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện trên 85 bệnh nhân khiếm thị từ 18 tuổi trở lên. Tất cả các bệnh nhân được khám lâm sàng để tìm nguyên nhân gây khiếm thị, đánh giá thị lực nhìn xa và thị lực nhìn gần, và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi để tìm hiểu chất lượng thị giác của bệnh nhân. Kết quả: điểm trung bình thị giác chung là 70,5 ± 14. Những yếu tố: thị lực xa, thị lực gần liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với điểm trung bình thị giác chung. Kết luận: chất lượng thị giác của bệnh nhân đạt ở mức trung bình. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng thị giác của bệnh nhân khiếm thị: thị lực nhìn xa, thị lực nhìn gần.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng trạng thái kích động tâm thần vận động ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Văn Thọ

Kích động tâm thần vận động là một trong những trạng thái cấp cứu tâm thần, biểu hiện ở hành vi bạo lực, phá hoại gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Vấn đề cần được nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc để giúp cho việc theo dõi, quản lý, chăm sóc điều trị bệnh nhân tốt hơn tại các bệnh viện chuyên khoa tâm thần. Mục tiêu: (1) Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng trạng thái kích động tâm thần vận động ở bệnh nhân tâm thần phân liệt. (2) Tìm hiểu các yếu tố thúc đẩy trạng thái kích động này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, mô tả lâm sàng và mối liên quan với các yếu tố khơi gợi kích động tâm thần vận động trên 145 bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 (Biên Hoà) có trạng thái kích động tâm thần vận động. Kết quả và kết luận: trạng thái kích động tâm thần vận động thường gặp ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid (56,55%), kèm theo đa số là ảo thanh bình phẩm (55,40%), thường là ảo giác giả (86,47%), và hoang tưởng đi kèm thường là hoang tưởng bị truy hại (42,48%). Các yếu tố tâm lý thúc đẩy kích động thường là bị cưỡng bức vào viện điều trị (43,45%), do bệnh nhân khác trêu chọc (18,62%), và yếu tố môi trường tác động là thay đổi thời tiết (45,52%), và nhiều trường hợp kích động không có nguyên nhân rõ ràng (46,90%).

Xem chi tiết

Ứng dụng thị trường kế humphrey matrix phát hiện tổn thương thị trường trong bệnh glôcôm góc mở nguyên phát

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Đào Thị Lâm Hường, Lê Quang Kính

Đánh giá giá trị chẩn đoán tổn thương thị trường của thị trường kế H. Matrix so với máy thị trường kế SAP. Đối tượng: 48 mắt (27 bệnh nhân) glôcôm góc mở nguyên phát và nghi ngờ glôcôm điều trị tại khoa Glôcôm bệnh viện Mắt Trung ương từ 9/2009 đến 9/2010. Phương pháp: Mô tả, cắt ngang. Kết quả: Thời gian đo trung bình Humphrey Matrix là 311,7 ± 17,3, máy SAP là 351,5 ± 52,2 giây. Ngưỡng cảm thụ trung bình võng mạc của máy H. Matrix là 17,6 ± 10,7dB máy SAP là 20,8 ± 11,3 dB. Độ rộng trung bình tổn thươngcủa máy SAP là 17,4 ± 14,8 vị trí, máy H. Matrix là 14,8 ± 12,5 vị trí. Độ sâu trung bình tổn thương ở máy H. Matrix = 10,4 ± 8,0dB, máy SAP = 17,5 ± 12,9dB. Độ dao động ngưỡng cảm thụ trung bình giữa hai lần khám nghiệm của máy H. Matrix là 4,86 ± 0,41 dB, máy SAP là 5,26 ± 0,43dB. Kết luận: Tổn thương được phát hiện trên máy H. Matrix sâu hơn máy SAP, nhưng độ rộng tổn thương được phát hiện trên máy SAP lại lớn hơn H. Matrix. Độ dao động ngưỡng cảm thụ ở các vị trí võng mạc giữa các lần khám nghiệm ở máy H. Matrix ít hơn và đồng nhất hơn so với máy SAP.

Xem chi tiết

Tác dụng của linh hoàng thang đối với tổn thương vi thể ở chuột xuất huyết não

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Dương Trọng Nghĩa, Nguyễn Thị Thu Hà

Trong các bệnh lý về mạch máu não thì xuất huyết não (Intracerebral hemorrhage - ICH) là một bệnh thường gặp và để lại nhiều di chứng cho bệnh nhân. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả sự thay đổi hình ảnh vi thể của não chuột cống bị bệnh ICH được điều trị bằng Linh hoàng thang. Kết quả cho thấy, qua kính hiển vi, nhóm mô hình có tổ chức vi thể não như: tế bào thần kinh, mao mạch bị tổn thương rõ rệt. So với nhóm mô hình thì các nhóm Linh hoàng thang và Não huyết thang có tổn thương ít hơn. Kết luận: Linh hoàng thang có tác dụng cải thiện hình ảnh vi thể của xuất huyết não trên chuột.

Xem chi tiết

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi ổ bụng một thì điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Vũ Thị Hồng Anh, Nguyễn Thanh Liêm, Bùi Đức Hậu, Trần Anh Quỳnh

Mục tiêu: ứng dụng và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi (PTNS) ổ bụng điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu, gồm 31 BN dưới 36 tháng tuổi, được chẩn đoán xác định bệnh PĐTBS dựa vào lâm sàng, X quang và sinh thiết tức thì trong mổ có vị trí vô hạch từ trực tràng tới đại tràng xích ma được phẫu thuật nội soi một thì từ tháng 12/2007 đến tháng 9/2008. Kết quả: 31 BN bị bệnh PĐTBS gồm 27 nam và 4 nữ, tuổi trung bình lúc mổ là 4,8 ± 1,1 tháng (từ 16 ngày - 24 tháng), trọng lượng trung bình là 5,25 ± 0,4 kg, 6 BN có vị trí vô hạch ở trực tràng (19,4%), 25 BN có vị trí vô hạch tới đại tràng xích ma (79,6%). Tất cả các BN đều được đặt 3 trocar 5mm và 1 trocar 3mm với áp lực bơm C02 bằng 1/10 trị số huyết áp động mạch BN. Thời gian phẫu thuật trung bình 127 phút (từ 90 - 180 phút), đoạn ruột cắt trung bình 21,45 cm (từ 14 - 30 cm). Không có tai biến trong mổ, BN được ăn sau mổ 24 giờ, không có tử vong, không có BN nào bị bục miệng nối, nhiễm trùng vết mổ, 2 BN bị lòi mạc nối khi rút dẫn lưu, 7 BN có đỏ da quanh hậu môn. Thời gian nằm điều trị sau mổ trung bình 6,23 ± 0,2 ngày. Khi xuất viện các BN đều có khả năng tự đại tiện. Kết luận: PTNS ổ bụng điều trị bệnh phình đại tràng bẩm sinh một thì với độ an toàn, thẩm mỹ, ít sang chấn hoàn toàn có thể thực hiện được cho BN dưới 36 tháng tuổi có vị trí vô hạch từ trực tràng tới đại tràng xích ma.

Xem chi tiết