Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại trường trung học cơ sở Lê Lai- Quận 8, TP Hồ Chí Minh năm 2009.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Lê Thị Hồng Thắm, Tô Gia Kiên

Bạo lực là vấn đề y tế công cộng toàn cầu. Tại Tp.HCM, bạo lực học đường tăng lên 13 lần so với năm trước đó. Trường Trung học cơ sở Lê Lai, Quận 8, Tp.HCM có tình hình bạo lực diễn biến phức tạp và nghiêm trọng trong mười năm gần đây. Nguyên nhân nào dẫn đến hành vi bạo lực học đường của học sinh trường THCS Lê Lai là câu hỏi mà nhiều người quan tâm. Để trả lời cho câu hỏi đó, nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu là tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường của những học sinh trường THCS Lê Lai quận 8 Tp.HCM năm 2009. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính thăm dò được tiến hành vào tháng 04 - 05 năm 2009 tại trường THCS Lê Lai trên các học sinh lớp 6, 7, 8, 9 có hành vi bạo lực, thầy cô và phụ huynh học sinh với 6 thảo luận nhóm có trọng tâm và 10 phỏng vấn sâu. Thông tin được thu thập bằng các bảng hướng dẫn thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và bảng câu hỏi tự điền. Các thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được ghi chú, ghi âm và sau đó được giải băng từng từ một. Kết quả: bạo lực học đường là những hành vi như kết băng nhóm hăm he bạn bè, ăn hiếp người nhỏ hoặc yếu thế, hành vi trấn lột đồ - tiền của bạn khác hoặc thậm chí đánh nhau có hay không sử dụng hung khí. Đa số các đối tượng cho rằng hành vi chửi nhau và hành vi hiếp dâm không phải là bạo lực học đường. Bạo lực ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của các em học sinh. Hầu hết các em có hành vi bạo lực thường sống trong môi trường có nhiều tệ nạn xã hội, gia đình nghèo và không hạnh phúc, và thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình, những người xung quanh và nhà trường. Nhiều em thực hiện hành vi bạo lực do đã từng chứng kiến cảnh bạo lực hay đã từng bị cha, mẹ hay những người xung quanh bạo lực. Khuyến nghị: địa phương cần tổ chức nhiều buổi truyền thông đại chúng về phương pháp giáo dục con cái cho các bậc cha mẹ . Nhà trường nên đề ra một số hình phạt cụ thể đối với từng mức độ sai phạm của các em và công khai thông báo những hình phạt đó. Nhà trường cần tổ chức những chương trình về tâm lý học sinh để thầy cô biết cách quản lý và ứng xử trước những hành vi sai phạm của các em. Nhà trường cần phải kết hợp với địa phương theo dõi và giám sát học sinh để ngăn chặn kịp thời các hành vi bạo lực.

Xem chi tiết

Tác dụng bảo vệ của chế phẩm OS35 trên cơ quan sinh sản của chuột cống đực gây suy giảm sinh sản bằng natri valproat

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 5

Tác giả: Đậu Thùy Dương, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương, Lê Minh Hà, Trần Đức Phấn, Trần Thanh Tùng, Đinh Quang Trường, Đàm Đình Tranh

Quả xà sàng đã được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị suy giảm sinh sản ở nam giới. Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ của chế phẩm OS35 trên cơ quan sinh sản của chuột cống đực gây suy giảm sinh sản bằng natri valproat và trên khả năng thụ thai và sự phát triển phôi thai của chuột cống cái giao phối với chuột cống đực. Kết quả cho thấy OS35 liều 150 mg/kg/ngày làm tăng số lượng và hoạt động của tinh trùng ở chuột cống đực; tăng tỉ lệ thụ thai, số thai đậu, số thai bình thường; giảm tỉ lệ thai chết sớm/ muộn, mất trứng ở chuột cống cái. OS35 liều 150 mg/kg/ngày làm giảm tác dụng gây suy giảm sinh sản của natri valproat gây ra trên chuột cống đực.

Xem chi tiết

Nghiên cứu bào chế chế phẩm trà tan “thảo sâm đông đô” dùng cho cộng đồng

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Hoàng Minh Chung

Nghiên cứu bào chế trà tan “thảo sâm đông đô” từ thảo dược để phục vụ cộng đồng. mục tiêu: (1) chuẩn hóa qui trình bào chế, tiêu chuẩn hóa; (2) xác định thử tác dụng dược lý của chế phẩm. đối tượng và phương pháp: trà tan “thảo sâm đông đô” được bào chế từ dịch chiết men bia, đẳng sâm và cam thảo. phương pháp chế biến, bào chế thuốc cốm tan (trà tan); hplc; quang phổ hấp thụ nguyên tử và thử tác dụng tăng dưỡng trên chuột cống trắng sdd. kết quả: đã xác định qui trình bào chế chuẩn, tiêu chuẩn chế phẩm với các chỉ tiêu định tính và định lượng. đã xác định hàm lượng saponin, 21 acid amin và 7 nguyên tố vi lượng dạng tự nhiên trong đó có fe, ca, zn, se, mg, cu và mn trong trà tan. trà tan “thảo sâm đông đô” có tác dụng làm tăng cân nặng, hồng cầu, hb, protein so với lô chứng suy dinh dưỡng với p < 0,05 so với lô đối chiếu chỉ có cân nặng khác với p > 0,05. kết luận: trà tan “thảo sâm đông đô” chuẩn có tác dụng cải thiện tình trạng dinh dưỡng trên thực nghiệm.

Xem chi tiết

Tỷ lệ nhiễm HPV và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18-69 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Hồ Vân Phúc, Trần Thị Lợi

Human Papillomavirus (HPV) là nguyên nhân chính gây ra ung thư cổ tử cung, một căn bệnh ác tính xếp thứ hai trong số các ung thư của phụ nữ trên toàn thế giới. Tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ tại TP HCM là bao nhiêu? Phân bố các týp HPV ra sao? Đó là những câu hỏi còn bỏ ngỏ và cũng là lý do khiến chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Xác định tỷ lệ nhiễm Human Papillomavirus và các yếu tố liên quan của phụ nữ trong độ tuổi từ 18 - 69 tại TP HCM”. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1550 phụ nữ 18 - 69 tuổi, đã có quan hệ tình dục sống tại thành phố Hồ Chí Minh được chọn vào nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu cụm ngẫu nhiên tỷ lệ với độ lớn dân số (PPS). Mỗi phụ nữ tham gia nghiên cứu đều được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi cấu trúc, được khám phụ khoa, làm PAP và thử nghiệm định tính, định týp HPV bằng kỹ thuật PCR Reveres Dot Blot. Kết quả: tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ sống tại TP HCM là 10,84% (164/1550) (khoảng tin cậy 95% 0,09 - 0,12), nhiễm các týp nguy cơ cao là 9,1% và týp nguy cơ thấp chiếm 1,74%, trong đó týp 16 chiếm tỷ lệ: 55,95% (94/168), týp 18 chiếm 38,1% (64/168), týp 58 là 11,13% (19/168), týp 11: 4,76%, týp 6: 3,57%, các týp khác tỷ lệ không cao. Các yếu tố liên quan được ghi nhận như: hút thuốc lá chủ động làm tăng tỷ lệ nhiễm HPV gấp đôi người không hút thuốc và tình trạng sử dụng bao cao su thường xuyên làm giảm tỷ lệ nhiễm HPV 3 lần so vói những phụ nữ không dùng hoặc dùng không thường xuyên. Kết luận: tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh khá cao 10,84% và sự phân bố các týp HPV cũng tương tự trên thế giới.

Xem chi tiết

Đánh giá hiệu quả quy trình bảo quản tế bào gốc máu ngoại vi thực hiện tại bệnh viện trung ương quân đội 108

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Lý Tuấn Khải, Nguyễn Thanh Bình, Trương Thị Minh Nguyệt,Nguyễn Duy Hải, Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Doãn Lợi

Đông lạnh bảo quản khối tế bào gốc máu ngoại vi (PBSC) ở nhiệt độ thấp ( - 1960C) là một qui trình kỹ thuật cần thiết trong ghép PBSC. Mục tiêu: ứng dụng qui trình bảo quản đông lạnh khối PBSC và đánh giá hiệu quả thông qua số lượng và chất lượng của PBSC sau bảo quản. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu PBSC của 4 bệnh nhân ghép PBSC tự thân tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được sử dụng trong nghiên cứu.PBSC được bảo quản theo qui trình của Trung tâm ghép tủy Quốc gia Hungary. Chất bảo quản đông lạnh là dimethylsulfoxide (DMSO) phối hợp với hydroxyethylstarch (HES). Đông lạnh trên hệ thống thiết bị hạ nhiệt độ có kiểm soát đã được lập trình, lưu trữ ở nhiệt độ - 1960C trong nitơ lỏng cho đến khi sử dụng. Kết quả: tỷ lệ tế bào sống, số lượng tế bào CD34(+) và chức năng của PBSC được duy trì tốt trong thời gian bảo quản. Thời gian phục hồi tiểu cầu và bạch cầu hạt trung tính trung bình là 12,25 ± 1,7 ngày và 11,0 ± 1,0 ngày. Kết luận: quy trình đông lạnh bảo quản PBSC đã được thực hiện an toàn và có hiệu quả cao.

Xem chi tiết

Hoạt động thể lực và mối liên quan với yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp ở trẻ vị thành niên thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Ngọc Minh, Hà Huỳnh Kim Yến, Tăng Kim Hồng

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp đang trở thành vấn đề sức khỏe quan trọng ở trẻ vị thành niên và hoạt động thể lực có thể lảm giảm khả năng mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để tìm mối liên quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp, từ đó đưa ra khuyến cáo về thời gian hoạt động thể lực cho trẻ vị thành niên TPHCM. Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên học sinh cấp II từ 12 - 16 tuổi ở các trường nội thành TPHCM. 617 học sinh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn theo PPS (Probability Proportionate to Size). Chúng tôi khảo sát tỉ lệ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp dựa vào định nghĩa của IDF năm 2007. Máy đo gia tốc MTI Actigraph được dùng để khảo sát tình trạng hoạt động thể lực. Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm STATA 10. Hồi qui logistic đa biến được sử dụng để tìm mối tương quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp. Kết quả cho thấy trẻ dành 45 phút/ ngày cho hoạt động thể lực vừa và nặng, trẻ nam dành thời gian hoạt động nhiều hơn trẻ nữ, tỷ lệ trẻ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch là 5,07%, trong đó, yếu tố cao huyết áp là thường gặp nhất (22,04%). Ngoài ra, chúng tôi tìm thấy có mối tương quan nghịch giữa thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng với YTNCTM phối hợp. Khi hoạt động thể lực càng tăng thì tỷ lệ mắc YTNCTM càng giảm với OR tương ứng ở các CI 95% của thời gian hoạt động thể lực tăng dần là 0,95 (CI 95%: 0,26-3,52); 0,90 (CI 95%: 0,21 - 3,91); 0,37 (CI 95%: 0,07-1,95); 0,18 (CI 95%: 0,04 - 0,85). Từ kết quả này thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng cho trẻ vị thành niên là khoảng 70 phút/ ngày để làm giảm 60% nguy cơ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên đối với trẻ thiếu hoạt động thể lực nên bắt đầu hoạt động thể lực vừa và nặng 50 phút/ sau đó từ từ đạt được mục tiêu là 70 phút/ ngày.

Xem chi tiết

Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2008

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Trần Khánh Toàn, Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Ngọc Linh

Mô hình nguyên nhân tử vong phản ánh gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng và là thông tin quan trọng cho xây dựng chính sách y tế dựa vào bằng chứng. Mục tiêu: Xác định mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp phỏng vấn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1925 trường hợp tử vong trong năm 2008 ở 24 xã phường được điều tra bằng bộ câu hỏi chuẩn của WHO. Kết quả: Chỉ 14,1% không xác định được nguyên nhân. Bệnh không lây chiếm hầu hết các nguyên nhân tử vong hàng đầu, cao nhất là bệnh mạch máu não (15,7% ở nam và 16,4% ở nữ) và bệnh đường hô hấp dưới mạn tính (7,2% và 6,3%). HIV/AIDS và lao là hai bệnh nhiễm khuẩn gây tử vong nhiều nhất với tỷ trọng thấp hơn ở nam, tập trung vào độ tuổi lao động. Bệnh lý chu sinh đứng hàng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ em. Có sự khác biệt về trật tự của các nguyên nhân tử vong hàng đầu ở mỗi nhóm tuổi. Kết luận: Bệnh không lây truyền đang chiếm ưu thế áp đảo trong mô hình nguyên nhân tử vong ở 2 thành phố này cho thấy gánh nặng bệnh tật kép diễn ra sớm và nhanh hơn ở khu vực thành phố.

Xem chi tiết

Bảo quản tinh trùng người bằng nitơ lỏng trong môi trường glycerol, GEYC và Sperm freeze

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trịnh Sinh Tiên, Trịnh BìnhNguyễn Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Bình

Sử dụng ba loại môi trường glycerol, GEYC và Sperm freeze để bảo quản tinh trùng người trong nitơ lỏng (-1960C) cho kết quả: Chất lượng tinh trùng sau bảo quản bằng môi trường GEYC tương đương với môi trường Sperm freeze và cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bảo quản ở môi trường glycerol đơn thuần (p < 0,01); Bảo quản tinh trùng người bằng lạnh sâu dùng môi trường GEYC và Sperm freeze có hiệu quả với CSF ≥ 50%. (Từ viết tắt: GEYC: Glycerol – egg yolk – citrat; CSF: Cryosurvival factor; TT: Tinh trùng)

Xem chi tiết

Đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác nguồn lực thông tin ở trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Y Hà Nội

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Cẩm Nhung

Với mục tiêu: Mô tả thực trạng nguồn lực thông tin hiện có và việc ứng dụng công nghệ thông tin và đánh giá hiệu quả của nó trong quản lý và khai thác nguồn lực thông tin ở Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội. Qua khảo sát thực tế các kho tư liệu và qua mẫu phiếu điều tra của người dùng tin cho thấy: Hiện trạng nguồn lực thông tin hiện có gồm có: Nguồn lực thông tin truyền thống như: sách, báo, tạp chí, luận án. Nguồn lực thông tin điện tử như: Các cơ sở dữ liệu, băng hình, đĩa CD-ROM, Medline, các thông tin trên mạng. Toàn bộ nguồn lực thông tin kể trên được lưu trữ trong 02 máy chủ và trên 20 máy trạm của thư viện. Hệ thống máy vi tính được nối mạng LAN và kết nối Internet. Việc ứng dụng công nghệ thông tin ở Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội đã đem lại kết quả rất khả quan trong quản lý và khai thác nguồn lực thông tin, nó quản lý được toàn bộ nguồn lực thông tin hiện có trong thư viện, xử lý tài liệu được nhiều công đoạn cùng một lúc, tìm kiếm thông tin nhanh, chính xác, nó còn là phương tiện để tìm kiếm các thông tin khác trên mạng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại ở thư viện Trường Đại học Y Hà Nội là việc làm cần thiết, nó đặt nền móng cho việc hình thành thư viện điện tử trong tương lai gần.

Xem chi tiết