Sản xuất kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Anh, Nguyễn Vĩnh Đông, Ngô Châu Giang, Nguyễn Tuyết Thu, Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang có ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán và nghiên cứu virus dại, do vậy việc nghiên cứu sản xuất để đáp ứng nhu cầu sử dụng ở trong nước là hết sức cần thiết. Mục tiêu: nghiên cứu sản xuất cộng hợp kháng thể kháng dại gắn huỳnh quang (FITC); Ứng dụng cộng hợp sản xuất thử nghiệm để chuẩn độ hiệu giá virus dại. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: cộng hợp được chế tạo theo phương pháp của Ed Harlow, David Lane 1998, sử dụng nền tế bào và các virus sởi, quai bị, rubella, virus dại để đánh giá chất lượng của cộng hợp. Phương pháp chuẩn độ hiệu giá virus dại trên chuột được sử dụng để đánh giá hiệu quả của cộng hợp trong việc chuẩn độ hiệu giá virus dại trên tế bào thông qua test – T và Leven. Kết quả: cộng hợp sản xuất thử nghiệm có hiệu giá 1/80, ổn định ở 40C trong 30 tháng, đặc hiệu với virus dại và không có FITC dư thừa; hiệu giá của 116 loạt virus dại chuẩn độ bằng phương pháp trên tế bào sử dụng cộng hợp sản xuất thử nghiệm cho kết quả tương đương với chuẩn độ hiệu giá trên chuột với p > 0,05.

Xem chi tiết

CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BẰNG KỸ THUẬT LAI TẠI CHỖ HUỲNH QUANG Ở THAI CÓ NANG BẠCH HUYẾT VÙNG CỔ

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Thơ, Trần Thị Thanh Hương, Phan Thị Hoan, Hoàng Thị Ngọc Lan, Hoàng Thu Lan, Trần Danh Cường, Nguyễn Trường Giang

Mục tiêu: (1) Xác định rối loạn nhiễm sắc thể ở những thai có nang bạch huyết (NBH) bằng kỹ thuật FISH. (2) Nhận xét về một số yếu tố có giá trị tiên lượng tiến triển thai NBH. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 53 thai NBH vùng cổ được thực hiện kỹ thuật FISH. So sánh các kết quả FISH, dấu hiệu siêu âm, kết quả nhiễm sắc thể (NST) và kết quả theo dõi thai NBH. Kết quả: (1) Kết quả FISH phù hợp với kết quả phân tích NST (53/53): bất thường NST: 75,46%; cao nhất là HC Turner (50,94%), NST bình thường: 24,53%. (2) Một số yếu tố có giá trị tiên lượng thai NBH: - Thai bất thường NST: đa dị tật, tiên lượng xấu. - Thai NBH có kèm bất thường khác có tỷ lệ rối loạn NST và tỷ lệ NBH chia vách cao hơn so với thai NBH đơn thuần (p < 0,05). - Thai NBH đơn thuần, NST bình thường có kích thước nhỏ hơn thai Turner (p < 0,05). – 4/6 thai NST bình thường, NBH đơn thuần tự tiêu ở ba tháng giữa, trẻ sinh ra bình thường. Kết luận: tỷ lệ thai NBH bất thường NST là 75,46%, HC Turner có tỷ lệ cao nhất. - Tiên lượng thai NBH: + Xấu: bất thường NST; siêu âm có bất thường khác, NBH lớn; có vách. + Tốt: NST bình thường, không kèm bất thường khác, NBH nhỏ, không vách, tự tiêu

Xem chi tiết

Xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng serotonin trong huyết tương bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao – detector huỳnh quang.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh, Phạm Thanh Hà, Nguyễn Thị Kiều Anh, Đào Văn Đôn

Trong khuôn khổ nghiên cứu, chúng tôi đã đề xuất một phương pháp định lượng Serotonin trong huyết tương chính xác và nhanh chóng, đồng thời tiến hành thẩm định lại phương pháp đó theo những hướng dẫn của cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm quốc gia Hoa Kỳ (FDA). Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu: mẫu thử và mẫu chuẩn, dung dịch chuẩn gốc nồng độ chính xác khoảng 250 mg/ml. Dung dịch chuẩn làm việc nồng độ chính xác khoảng 5000 ng/ml. Dãy dung dịch chuẩn tuyến tính có nồng độ Serotonin từ 100 đến 400 ng/ml. Mẫu trắng: mẫu huyết tương mua từ Viện huyết học truyền máu trung ương. Mẫu kiểm chứng (QC): Phối hợp một lượng xác định Serotonin chuẩn với huyết tương trắng để có các mẫu tự tạo có nồng độ xác đinh. Thiết bị và hóa chất: thiết bị phân tích: Hệ thống HPLC WATERS, detector huỳnh quang. Dung môi, hóa chất: Acetonitril, đệm Acetat 0.1N (pH 4), acid Pecloric 20%, Acid Ascorbic 3,4 M… Chất chuẩn: Serotonin tinh thể (Đức). Thẩm định phương pháp phân tích với các chỉ tiêu theo hướng dẫn thẩm định phương pháp phân tích của FDA. Kết quả: điều kiện tiến hành sắc ký: cột: C18, 5µm, 250 × 4,6 mm. Có tiền cột và cột bảo vê. Detector huỳnh quang với các bước sóng hấp thụ/ phát xạ lần lượt là 285 và 345 nm. Pha động: theo chương trình dung môi. Phương trình tuyến tính và hệ số tương quan: y = 18113x + 10272; r = 0,9997. Các giới hạn LOD, LOQ: LOQ = 2,25ng/ml, LOD = 0,74 ng/ml. Độ đúng (độ tìm lại) và độ lặp lại trong ngày: độ đúng tốt 98,70 – 106,20%, độ lệch nằm trong giới hạn cho phép (± 15%), đối với điểm gần giới hạn đinh lượng dưới sai số không vượt quá 20% (7,55%). Độ lặp lại trong ngày với giá trị RSD nhỏ 2,26 – 4,8%. Độ lặp lại khác ngày: độ lặp lại khác ngày cao với giá trị RSD < 10% (4,02 – 6,11 %). Độ ổn định: sau 3 chu kì đông rã: p = 0,06 – 0,17, mẫu Serotonin ổn định sau 3 chu kì rã đông. Độ ổn định dài ngày: p > 0,37, mẫu Serotonin ổn định sau một khoảng thời gian dài ngày cho phép

Xem chi tiết

Kết quả phân tích nhiễm sắc thể và lai tại chỗ huỳnh quang của một số trường hợp thai có nang bạch huyết

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.1

Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Thơ

Nang bạch huyết là một bất thường bẩm sinh của hệ thống bạch huyết hay gặp trên siêu âm thai. Có nhiều nguyên nhân gây nang bạch huyết trong đó hay gặp nhất là rối loạn nhiễm sắc thể. Nang bạch huyết có thể đơn độc hoặc có các bất thường kèm theo. Tiên lượng của thai có nang bạch huyết phụ thuộc vào có hay không các rối loạn nhiễm sắc thể và các dị tật khác. Mục tiêu: Xác định rối loạn nhiễm sắc thể ở những thai có nang bạch huyết bằng phân tích nhiễm sắc thể và lai tại chỗ huỳnh quang (FISH). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 12 trường hợp thai có nang bạch huyết vùng cổ phát hiện trên siêu âm được nuôi cấy phân tích nhiễm sắc thể và FISH từ tế bào ối. Kết quả: Rối loạn nhiễm sắc thể ở thai có nang bạch huyết là 10/12. Kết quả phân tích nhiễm sắc thể phù hợp với kết quả FISH: 6/12 thai Turner 45,X đều có kích thước nang lớn và chỉ số uE3 giảm mạnh, chỉ số HCG tăng; 2/12 thai Down (47,XX,+21); 2/12 thai Edward (47,XX,+18 và 47,XY,+18); 2/12 thai có karyotyp bình thường (46,XX và 46,XY). Kết luận: - Nang bạch huyết thường kèm rối loạn nhiễm sắc thể. - Các phương pháp phân tích nhiễm sắc thể và FISH đều có ý nghĩa trong việc chẩn đoán rối loạn nhiễm sắc thể của thai có nang bạch huyết. - Kết quả về karyotyp và tình trạng có hay không dị tật kèm theo, tiến triển của nang có vai trò quan trọng trong tiên lượng thai. Từ khoá: nang bạch huyết, nhiễm sắc thể, FISH

Xem chi tiết

Kỹ thuật phản ứng chuỗi polymer huỳnh quang định lượng (QF-PCR) trong chẩn đoán trước 1 sinh một số hội chứng lệch bội nhiễm sắc thể

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Hoàng Thị Ngọc Lan, Nguyễn Hoài Nam, Trần Vân Khánh

Nghiên cứu nhằm ứng dụng kỹ thuật QF - PCR trong chẩn đoán trước sinh một số hội chứng lệch bội nhiễm sắc thể (NST) và đánh giá giá trị của kỹ thuật QF - PCR trong chẩn đoán trước sinh một số hội chứng lệch bội NST. Kết quả đã phát hiện 28/31 có bất thường về số lượng NST. Trong đó với Trisomy 21: 16/31 mẫu, trisomy 18: 8/31, trisomy 13: 2/31, 1/31 mẫu là monosomy X. Có 1 trường hợp phát hiện được Trisomy của 4 NST (13, 18, 21, X). Có 3/13 trường hợp không phát hiện thấy bất thường về số lượng các cặp nhiễm sắc thể được lai. Đối chiếu với kết quả karyotyp có 30/31 mẫu có kết quả phù hợp giữa kết quả QF - PCR và kết quả phân tích NST. Một trường hợp có sự khác nhau giữa kết quả karyotyp và QF - PCR, kết quả karyotyp đọc là XY còn QF - PCR đọc là XX. Khi phối hợp giữa karyotype và QF - PCR thì được chẩn đoán là thai có bất thường về cấu trúc NST X và thai có hội chứng Turner.

Xem chi tiết