Sự khác biệt giới tính về phát triển tâm lý – vận động và tình trạng dinh dưỡng ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi tại Hải Dương năm 2009

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Đỗ Huy, Trần Quang Bình, Nguyễn Thị Hồng Hà

Nghiên cứu nhằm so sánh sự khác biệt theo giới ở trẻ từ 1 đến 3 tuổi về sự phát triển tâm lý vận động và tình trạng dinh dưỡng ở vùng nông thôn và thành thị, tỉnh Hải Dương năm 2009. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang chọn có chủ định toàn bộ 492 cặp đối tượng người mẹ và con có tuổi từ 1 đến 3 tại 1 xã nông thôn và 1 phường thành phố để đánh giá sự phát triển tâm lý - vận động bằng test Denver II và phân loại tình trạng dinh dưỡng theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới. Kết qua cho thấy: Tỷ lệ nghi ngờ chậm phát triển tâm lý vận động cao hơn ở nhóm trẻ gái so với trẻ trai ở khu vực vận động thô và vận động tinh tế, và cao hơn ở ở nông thôn so với thành thị ở khu vực phát triển vận động thô và phát triển cá nhân xã hội (p < 0,05). Không có sự khác biệt về giới ở cả ba thể suy dinh dưỡng: nhẹ cân, thấp còi và gầy còm (p > 0,05).

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động của trẻ dưới 6 tuổi tại phường Trần Hưng Đạo, Phủ Lý, Hà Nam năm 2012

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 03

Tác giả: Lê Thị Hương, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Thùy Linh, Tạ Đăng Hưng, Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 350 trẻ dưới 6 tuổi và bà mẹ của trẻ tại phường Trần Hưng Đạo, Phủ Lý, tỉnh Hà Nam năm 2012 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phát triển tâm vận động của trẻ. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 4,3%, thể thấp còi là 7,1% và thể gầy còm là 7,1%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở ba thể xu hướng tăng theo độ tuổi đặc biệt là suy dinh dưỡng thể nhẹ cân. Tỷ lệ thừa cân béo phì là 12,9%. Phát triển tâm vận động (TVĐ) nhìn chung tương đối tốt. Hầu hết trẻ phát triển tâm vận động ở mức độ bình thường và tiến bộ ở các khu vực. Riêng khu vực cá nhân xã hội, tỷ lệ nghi ngờ và chậm phát triển khá cao (59,4%). Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa mức độ phát triển cả 4 khu vực và tình trạng dinh dưỡng.

Xem chi tiết

Nghiên cứu chức năng nhĩ trái và nồng độ NT- proBNP ở bệnh nhân rung nhĩ mạn tính không do bệnh van tim

Chuyên ngành: Nội - Tim mạch

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Bạch Yến

Tên tác giả: NGÔ THỊ THANH HOÀN

Rung nhĩ (RN) là rối loạn nhịp khá thường gặp trên lâm sàng. Nghiên cứu ATRIA cho thấy tỷ lệ RN trong cộng đồng khoảng 1%, tương ứng với khoảng 3 triệu bệnh nhân ở Mỹ. Tỷ lệ RN tăng dần theo tuổi, 0,1% ở bệnh nhân <50 tuổi và 9% ở bệnh nhân > 80 tuổi [1]. Dự báo đến năm 2015 có khoảng 5 triệu người Mỹ mắc RN [2],[3]. Ngoài ra nhiều bệnh nhân RN kịch phát không có triệu chứng nên không được phát hiện, vì vậy tỷ lệ RN thực tế có thể còn cao hơn so với các nghiên cứu trên. Nghiên cứu của Viện Tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai (kết hợp với Tổ chức Y tế Thế giới) cho thấy tỷ lệ RN tại Việt Nam chiếm khoảng 0,3% dân số.
RN làm tăng nguy cơ đột quỵ lên 5 lần [4],[5], suy tim gấp 3 lần [6],[7], sa sút trí tuệ gấp 2 lần [8] và tử vong gấp 2 lần [4],[9]. Đột quỵ ở bệnh nhân RN có tỷ lệ tử vong cao hơn và để lại di chứng nặng nề hơn các đột quỵ không có RN [5],[10],[11].
Hiện nay, Y học đã có nhiều tiến bộ trong việc chẩn đoán và điều trị RN. Các phương pháp mới như ghi Holter điện tâm đồ 24 giờ, máy ghi sự kiện (Event Recorder), máy ghi ĐTĐ cấy vào trong cơ thể cho phép chẩn đoán những cơn RN ngắn, thoáng qua, tần suất thưa (đây là những trường hợp trước đây thường bị bỏ qua). Về điều trị RN hiện nay cũng có nhiều thay đổi, việc sử dụng thuốc kháng đông thế hệ mới, kết hợp với triệt đốt bằng RF đã giúp cải thiện chất lượng điều trị.
Tuy nhiên xác định bệnh nhân nào nhận được nhiều lợi ích nhất, bệnh nhân nào nhận được ít lợi ích từ những biện pháp điều trị này vẫn còn là một vấn đề thách thức. Ngay cả với các yếu tố dự báo nguy cơ hiện đang được ứng dụng rộng rãi như thang điểm CHA2D2-VASc vẫn còn nhiều hạn chế.
2
Một số nghiên cứu cho thấy ở bệnh nhân rung nhĩ có tình trạng giãn nhĩ trái và giảm chức năng nhĩ trái (qua các thông số trên siêu âm tim) và cũng được chứng minh chức năng nhĩ trái có vai trò trong tiên lượng biến cố ở bệnh nhân RN. Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy nồng độ NT- proBNP tăng ở bệnh nhân RN [12]. Nồng độ NT- proBNP huyết thanh tăng ở những bệnh nhân RN đơn độc, không kèm theo suy tim hoặc bệnh tim khác và nồng độ NT- proBNP càng tăng ở bệnh nhân RN thì nguy cơ đột quỵ càng cao [13],[14]. Nghiên cứu RELY nghiên cứu trên 6189 bệnh nhân RN, cho thấy ở các bệnh nhân này NT- proBNP là yếu tố tiên lượng độc lập đối với đột quỵ và tử vong tim mạch [13]. Ở Việt Nam còn ít nghiên cứu về chức năng nhĩ trái trên siêu âm và nồng độ NT- proBNP ở bệnh nhân rung nhĩ và liên quan giữa các thông số này với thang điểm CHA2DS2-VASc. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu chức năng nhĩ trái và nồng độ NT- proBNP ở bệnh nhân rung nhĩ mạn tính không do bệnh van tim” nhằm 2 mục tiêu:
1. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân rung nhĩ mạn tính không do bệnh van tim.
2. Đánh giá chức năng nhĩ trái trên siêu âm tim, nồng độ NT- proBNP, mối liên quan giữa chức năng nhĩ trái trên siêu âm với nồng độ NT- proBNP và liên quan giữa các thông số này với thang điểm CHA2DS2-VASc.

Xem chi tiết