Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số trường hợp nhiễm nấm phổi (aspergillus fumigatus) điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hồng Thái

Nấm phổi do Aspergillus không phải là bệnh hiếm gặp, nhưng nó thường bị ẩn trong các bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Ngày nay, với tình trạng gia tăng các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ bắt gặp nấm phổi ngày một tăng. Mặt khác, với tiến bộ vượt bậc của các kỹ thuật chẩn đoán, nấm phổi ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn. Mục tiêu: (1). Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của nấm phổi. (2). Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị những trường hợp bị nấm phổi. Đối tượng nghiên cứu: 15 trường hợp nghi nấm phổi được khám lâm sàng và thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán cũng như kết quả phẫu thuật, xét nghiệm sau mổ, xác định có nấm aspergillus fumigatus ở phổi từ 1/2007 đến 1/2008. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả. Kết quả. Nam: 8 TH, nữ 7 TH.Ho máu: 9 TH (60%).Chẩn đoán chắc chắn có nấm 12 TH (80%) (sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực thấy nấm ở 5 TH (34%), 7 TH phẫu thụât cắt phổi (47%). Có 8 TH (53%) điều trị nội khoa vì không còn chỉ định mổ. Kết luận: nấm phổi không phải là 1 bệnh hiếm gặp, nó thường xảy rs trên cơ địa suy giảm miễn dịch hoặc có tổn thương lao cũ với triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho máu.Về điều trị thì phẫu thuật là phương pháp hiệu quả đối với các TH u nấm, song với các TH suy giảm miễn dịch thì điều trị nội khoa là phương pháp hữu hiệu hơn

Xem chi tiết

Sự phát triển âm đầu của âm tiết ở trẻ em bình thường tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 2

Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh và cộng sự

Khi đánh giá phát âm và ngôn ngữ của trẻ em nói tiếng Việt, chúng ta không có cơ sở bình thường nào để so sánh. Mục tiêu: (1) Nghiên cứu độ dài trung bình của phát ngôn ở mỗi độ tuổi. (2) Nghiên cứu quá trình hoàn thiện của các phụ âm đầu âm tiết của trẻ em tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội. Phương pháp: Mô tả cắt ngang: Ghi âm hội thoại tự do của trẻ với người thân và dùng bảng từ thử để kiểm tra. Tính độ dài trung bình của phát ngôn; âm được coi là hoàn chỉnh nếu tần suất tạo âm đúng đạt trên 85%. Kết quả: Độ dài phát ngôn tăng từ 1,36 (12 - 18th) lên 6,6 âm tiết (độ tuổi 60 - 72th). Thứ tự hoàn thiện là các âm “m, b, p, k, h... ” rồi tới các âm “ x, n, th, kh... “. Kết luận: Độ dài phát ngôn tỷ lệ thuận với độ tuổi. Các âm đầu có bộ vị phía trước, là âm tắc, âm hữu thanh được hoàn chỉnh sớm hơn so với âm phía sau, âm xát và âm vô thanh.

Xem chi tiết

Tật khúc xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn năm 2007

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Mai Quốc Tùng, Hoàng Linh, Đinh Mạnh Cường, Phạm Trọng Văn

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tật khúc xạ đặc biệt là cận thị là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực có thể phòng tránh được. Mục tiêu: Đánh giá thực trạng tình hình tật khúc xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả học sinh phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 đang học tập và sinh sống ở Tỉnh Bắc Kạn. Cách chọn mẫu ngẫu nghiên, phân tầng theo cấp học và địa dư. Các học sinh thuộc đối tượng nghiên cứu được khám mắt toàn diện. Tật khúc xạ được đo bằng máy đo khúc xạ tu động sau khi tra thuốc liệt điều tiết 30 phút. Kết quả: Đã có 3580 học sinh các cấp được khám, trong đó nam chiếm 40,3%, nữ chiếm 59,7%. Độ khúc xạ cầu tương đương (ĐCTĐ) trung bình là 0,95 ± 0,83D ở học sinh tiểu học (TH), 0,51 ± 0,69D ở học sinh trung học cơ sở (THCS) và 0,08 ± 1,49D ở học sinh trung học phổ thông (THPT). Tỷ lệ cận thị (ĐCTĐ = - 0,5D) ở học sinh TH là 2,4%, ở học sinh THCS là 5,9% và ở học sinh THPT là 17,0%. Có sự khác biệt về ĐCTĐ và tỷ lệ tật khúc xạ giữa học sinh cùng độ tuổi nhưng ở môi trường thành thị so với nông thôn (p < 0,01). Học sinh thành thị có nguy cơ bị cận thị cao hơn ở học sinh nông thôn. Kết luận: Tỷ lệ cận thị ở học sinh Bắc Kạn tương đối thấp so với các tỉnh thành khác trong cả nước. Nguyên nhân giảm thị lực chính là tật khúc xạ đặc biệt là cận thị. Nên có những biện pháp phòng chống cận thị áp dụng ở Tỉnh Bắc Kạn trong khi tỷ lệ tật khúc xạ còn chưa cao.

Xem chi tiết

Tâm lý học Y học – Y đức (Sách đào tạo CĐ y học)

Chủ biên: Nguyễn Huỳnh Ngọc

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, NXB Giáo Dục

Năm xuất bản: 2010

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Lời nói đầu
Được sự chỉ đạo của Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y tế; sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, phòng nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Chúng tôi biên soạn cuốn Tâm lý học y học – Y Đức dành cho sinh viên cao đẳng y học thuộc các chuyên ngành Cao đẳng Kỹ thuật và Cao đẳng Điều dưỡng với mục đích cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về tâm lý học nói chung, tâm lý học y học nói riêng và những nguyên lý cơ bản của đạo đức nghề y và cách ứng xử của nhân viên y tế khi tiếp xúc với người bệnh, người nhà người bệnh, đồng nghiệp và các thành viên khác trong cộng đồng.

Xem chi tiết

Nhiễm giun truyền qua đất trên học sinh tiểu học trường Y wang thành phố Buôn Ma Thuột, Daklak năm 2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Ngọc Xuân, Phan Tấn Hùng

Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun truyền qua đất (GTQD) của học sinh(HS) trường tiểu học Y Wang TP Buôn Ma Thuột, Daklak. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm GTQĐ của học sinh trường tiểu học Y Wang TP Buôn Ma Thuột là 34,93% (trong đó tỷ lệ nhiễm giun đũa(A. lumbricoide) là 4,27%, giun tóc (T. trichiura) là 0,85%, giun móc/mỏ (A. duodenale/N. americanus) là 96,57%). Tỷ lệ nhiễm GTQĐ của HS người kinh và HS người thiểu số xấp xỉ bằng nhau, khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Cường độ nhiễm giun truyền qua đất của các em HS: giun đũa 3,52 trứng/g phân, giun tóc 0,96 trứng/g phân và giun móc 71,81 trứng/g phân. Ta có kết luận: Tỷ lệ nhiễm GTQĐ chung của các em học sinh trường tiểu học Y Wang TP Buôn Ma Thuột 34,93%. Cường độ nhiễm GTQĐ ở mức độ nhẹ. Mebendazole liều duy nhất 500mg hiệu quả tốt với giun đũa, giun tóc và giun móc/mỏ. Tỷ lệ sạch trứng với giun đũa, giun tóc là 100%; tỷ lệ sạch trứng với giun móc/mỏ là 83,19%.

Xem chi tiết

Thực tập Di truyền Y học – ĐH Y Hà Nội

Chủ biên: GS. TS. Trịnh Văn Bảo

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2006

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Sách Thực tập Di truyền Y học là giáo trình giảng dạy dành cho sinh viên của trường ĐH Y Hà Nội. Sách do Bộ môn Y Sinh học – Di truyền biên soạn, chủ biên là GS. TS. Trịnh Văn Bảo. Sách gồm các nội dung sau:
Bài 1. Nếp vân da bàn tay
Bài 2. Vật thể giới – cách làm tiêu bản để xét nghiệm vật thể Barr
Bài 3. Kỹ thuật nuôi cấy tế bào lympho máu ngoại vi để làm tiêu bản NST người
Bài 4. Phương pháp xếp bộ nhiễm sắc thể người
Bài 5. Phân tích karyotyp của một số bệnh di truyền và một số dạng đột biến NST
Bài 6. Một số kỹ thuật sinh học phân tử thông dụng ứng dụng trong y học
Bài 7. Phương pháp con sinh đôi, di truyền quần thể, di truyền sinh hóa
Bài 8. Nghiên cứu các bệnh di truyền đơn gen bằng phương pháp gia hệ
Bài 9. Hình ảnh một số bất thường bẩm sinh, hội chứng, bệnh di truyền

Xem chi tiết

Lý sinh Y học – ĐH Y Hà Nội

Chủ biên: PGS. TSKH. Phan Sỹ An

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2005

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Lời nói đầu

Vật lý sinh học được gọi tắt là lý sinh, là môn học nghiên cứu các hiện tượng xảy ra trong các tổ chức và cơ thể sống dựa trên quan điểm và các định luật vật lý, từ mức độ điện tử nguyên tử đến toàn cơ thể hay một hệ có nhiều cơ thể sống.

Người thầy thuốc cần được cung cấp những kiến thức cơ bản và hiện đại liên quan tới y học. Vì vậy môn lý sinh y học từ nhiều năm nay được đưa vào giảng dạy tại các trường đại học Y cho sinh viên, nhất là các học viên sau đại học. Do điều kiện và hoàn cảnh thực tế ở nước ta, môn học này mới được tiến hành đều đặn và đầy đủ từ nhiều năm nay ở trường Đại học Y Hà Nội.

Xem chi tiết