Đái tháo đường & Điều trị – ĐH Y Hà Nội

Chủ biên: PGS. TS. Đỗ Trung Quân

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2007

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Lời nói đầu

Bệnh lý nội tiết chuyển hóa nói chung, trong đó bệnh lý đái tháo đường là rất thường gặp, có xu hướng phát triển nhanh ở các nước đang phát triển. Thực sự trở thành vấn đề được các quốc gia trên toàn thế giới quan tâm bởi sự ảnh hưởng của bệnh có liên quan chặt chẽ tới địa lý – chính trị – xã hội – kinh tế cũng như chất lượng cuộc sổng con người.

Xem chi tiết

Đái tháo đường Tuýp II ở nhóm 30-69 tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Đào Thị Minh An. Trần Minh Long. Trần Thị Phúc Nguyệt

Nghiên cứu này nhằm mô tả một số đặc điểm dịch tễ học đái tháo đường (ĐTĐ) tỷp 2 phát hiện ở nhóm tuổi 30 - 69 sinh sống tại tỉnh Nghệ An năm 2010. Kết quả cho thấy ĐTĐ týp 2 ở nhóm tuổi từ 30 - 69 trong cộng đồng dân cư tỉnh Nghệ An là 9,39%. Nam cao hơn nữ (11,0% và 8,26%), thành thị cao hơn nông thôn (9,94% và 8,88%); ĐTĐ týp 2 có xu hướng tăng theo tuổi và tập trung chính ở nhóm tuổi > 45; nhóm có tiền sử bệnh lý tim mạch, rối loạn lipid máu, bệnh tăng huyết áp; thường xuyên ăn chất béo, ăn uống chất ngọt, uống rượu bia, ít ăn rau xanh, ít hoạt động thể lực, thừa cân/béo phì, tiền sử sinh con có cân nặng > 4000 gram có tỉ lệ mắc ĐTĐ týp 2 cao hơn nhóm không có các yếu tố này. cần mở rộng chương trình sàng lọc phát hiện sớm ĐTĐ týp 2 trong cộng đồng định kỳ hàng năm ở nhóm đối tượng từ30 trở lên; phát triển các chương trình truyền thông rộng rãi, phổ cập trong cộng đồng về các yếu tố liên quan, nguy cơ của ĐTĐ; xây dựng các phòng tư vấn về ĐTĐ tại tuyến y tế cở sở trên địa bản tỉnh Nghệ An.

Xem chi tiết

Biến chứng thận ở bệnh nhi đái tháo đường

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Nguyễn Phú Đạt

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm dẫn đến tàn phế hoặc tử vong. Trong đó biến chứng thận là hay gặp. Kiểm soát glucose huyết bằng xét nghiệm HbA1c là cách tốt nhất để giảm những nguy cơ biến chứng thận. Mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ biến chứng thận ở trẻ em ĐTĐ đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương. 2. Nhận xét liên quan giữa biến chứng thận với kiểm soát glucose huyết. Đối tượng: Tất cả các bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ týp 1 đang được điều trị và theo dõi tại Bệnh viện Nhi Trung ương, từ 10/1999- 10/2009, có thời gian điều trị từ 1 năm trử lên. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả có phân tích. Kết quả: Tỷ lệ biến chứng thận cao nhất ở bệnh nhân trên 15 tuổi là 55,3%. Tuổi phát hiện biến chứng thận trung bình là 16,2 ± 6,07 tuổi. Khoảng 1/4 số bệnh nhân bị biến chứng thận có biểu hiện phù và tăng huyết áp. 8,6% số bệnh nhân có macroalbumin niệu, 11,4% số bệnh nhân có ure và creatinin máu tăng. Kiểm soát glucose huyết không tốt có tỷ lệ biến chứng thận cao gấp hơn 2 lần so với kiểm soát tốt. Kết luận: Tỷ lệ biến chứng thận tăng theo thời gian điều trị. Kiểm soát glucose huyết không tốt có nguy cơ biến chứng thận cao gấp hơn 2 lần so với kiểm soát tốt.

Xem chi tiết

Phát triển thể chất ở trẻ đái tháo đường

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Nguyễn Phú Đạt, Nguyễn Thị Yến

Đái tháo đường (ĐTĐ) ở trẻ em thường phải điều trị suốt đời bằng insulin, bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển thể chất. Kiểm soát glucose máu đóng vai trò rất quan trọng quyết định đến sự phát triển bình thường của trẻ bị ĐTĐ. Báo cáo này nhằm mục tiêu đánh giá phát triển thể chất ở trẻ ĐTĐ và tìm hiểu mối liên quan giữa phát triển thể chất với kiểm soát glucose máu. Kết quả cho thấy rằng 24,5% trẻ chậm phát triển chiều cao sau 5 năm điều trị, 38,6% trẻ chậm phát triển dậy thì. Nguy cơ chậm phát triển chiều cao và chậm dậy thì cao gấp hơn 2 lần ở bệnh nhân kiểm soát glucose máu không tốt so với kiểm soát tốt. Từ kết quả trên cho phép rút ra kết luận đái tháo đường gây chậm phát triển thể lực và dậy thì, kiểm soát glucose máu không tốt gây chậm phát triển thể lực và dậy thì. Từ khoá: Phát triển thể chất, Đái tháo đường týp 1

Xem chi tiết

Biến chứng mắt ở trẻ đái tháo đường

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Ngô Thị Phương Nga, Nguyễn Phú Đạt

Nhận xét các biến chứng mắt ở trẻ em ĐTĐ đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương và mối liên quan giữa biến chứng mắt với kiểm soát glucose huyết. Tất cả các bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ týp 1 đang được điều trị và theo dõi tại Bệnh viện Nhi Trung ương, bệnh án theo dõi ngoại trú từ 12/1999- 12/2009, có thời gian điều trị trên 1 năm. Nghiên cứu mô tả có phân tích, vừa hồi cứu vừa tiến cứu. Kết quả: Tỷ lệ biến chứng mắt tăng lên từ 25,5% trong 5 năm đầu bị bệnh lên đến 100% (4/4 bệnh nhân) sau 15 năm bị bệnh ĐTĐ. Bệnh võng mạc gặp nhiều nhất chiếm 77,8%, đục thủy tinh thể 58,3%, tổn thương kết hợp là 36,1%. Giảm thị lực mức độ nặng ≤ 3/10 chiếm tỷ lệ 41,7%. Tỷ lệ biến chứng mắt cao gấp 4 lần ở bệnh nhân kiểm soát không tốt HbA1c so với kiểm soát tốt. Kết luận: Biến chứng mắt tăng dần theo thời gian mắc bệnh ĐTĐ. Biến chứng mắt hay gặp nhất là bệnh võng mạc. Nguy cơ biến chứng mắt cao gấp 4 lần ở bệnh nhân kiểm soát glucose huyết không tốt so với kiểm soát tốt.

Xem chi tiết

Tình hình sức khỏe bệnh tật và lối sống của người dân ở huyện Ba Vì - Hà Nội năm 2009

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trần Quỳnh Anh, Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Văn Yên, Nguyễn Ngọc Hùng, Vũ Thị Vựng

Đây là một nghiên cứu phối hợp giữa Trường Đại học Y Hà Nội và Trường Đại học Nữ Ewha Hàn Quốc. Mục tiêu: mô tả tình hình sức khỏe bệnh tật và một số hành vi nguy cơ liên quan đến lối sống của người dân ở huyện Ba Vì - Hà Nội năm 2009. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang người trưởng thành trên 18 tuổi, tổng số có 960 người đã tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn. Xử lý và phân tích số liệu bằng các phần mềm Access và SPSS. Thuật toán khi bình phương (c2) được sử dụng nhằm so sánh sự khác biệt giữa các nhóm. Kết quả: (1) Về tình hình sức khỏe của người dân: Tỷ lệ sức khỏe bình thường 72%. Tỷ lệ sức khỏe rất tốt và tốt ở nam cao hơn nữ (7,4% và 12,2% so với 2,7% và 7,2%), khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tỷ lệ người có biểu hiện triệu chứng của bệnh hô hấp và bệnh tuần hoàn thấp (6% và 9%). Tỷ lệ tự khai báo được chẩn đoán mắc tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ máu rất thấp (5,3% và 1%), chưa có trường hợp nào đã từng được chẩn đoán là mắc đái tháo đường. (2) Về các hành vi nguy cơ liên quan đến lối sống: 50,5% nam giới hiện tại đang hút thuốc lá. Tỷ lệ phụ nữ hút thuốc lá thụ động là 27%. Tỷ lệ nam giới hiện đang uống rượu là 77%. Tỷ lệ không tập thể dục đều đặn cao, gần 90%.

Xem chi tiết