Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết

Nguy cơ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật cho cư dân ở xã Hoàng Kim - Mê Linh - Hà Nội năm 2009-2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trần Như Nguyên, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Hoàng Thanh

Nghiên cứu mô tả ngang 150 hộ dân xã Hoàng Kim - Mê Linh - Hà Nội. năm 2009 - 2010 thấy: 1.) Hành vi nguy cơ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật chiếm tỷ lệ cao đáng kể: 72,7 % có cất giữ tại hộ gia đình nhưng không hộ nào có nơi để riêng, cất giữ tùy tiện trong vườn 26%; chuồng gia súc 14,67%; nhà vệ sinh, nhà tắm 12%; nhà chính 6,67; trong thùng không khoá 11,71%. Hoà thuốc bằng tay không 21,33%. Tỷ lệ pha thuốc đúng nồng độ chỉ có 57,33%; pha đặc hơn 2,67%.. Chỉ66,7% luôn luôn sử dụng bảo hộ lao động khi phun. Đến 65,3% tự đọc trên bao bì để sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật. 2.) Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khoẻ người lao động là rõ rệt: Mệt mỏi 80,67%, nhức đầu 80,00%, hoa mắt chóng mặt 59,33%, rối loạn giấc ngủ 3,33%. Khô họng, đau họng 1,33%. Nôn, buồn nôn 2%, đau bụng 0,67%. Ngứa da 2%, nhức mắt 1,33%, tức ngực 0,67%. Khuyến nghị: Tập huấn nâng cao kiến thức và thực hành kết hợp với giám sát nhằm giảm thiểu hành vi nguy cơ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật cho người sử dụng, hóa chất bảo vệ thực vật.

Xem chi tiết

Sự phát triển âm đầu của âm tiết ở trẻ em bình thường tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 2

Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh và cộng sự

Khi đánh giá phát âm và ngôn ngữ của trẻ em nói tiếng Việt, chúng ta không có cơ sở bình thường nào để so sánh. Mục tiêu: (1) Nghiên cứu độ dài trung bình của phát ngôn ở mỗi độ tuổi. (2) Nghiên cứu quá trình hoàn thiện của các phụ âm đầu âm tiết của trẻ em tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội. Phương pháp: Mô tả cắt ngang: Ghi âm hội thoại tự do của trẻ với người thân và dùng bảng từ thử để kiểm tra. Tính độ dài trung bình của phát ngôn; âm được coi là hoàn chỉnh nếu tần suất tạo âm đúng đạt trên 85%. Kết quả: Độ dài phát ngôn tăng từ 1,36 (12 - 18th) lên 6,6 âm tiết (độ tuổi 60 - 72th). Thứ tự hoàn thiện là các âm “m, b, p, k, h... ” rồi tới các âm “ x, n, th, kh... “. Kết luận: Độ dài phát ngôn tỷ lệ thuận với độ tuổi. Các âm đầu có bộ vị phía trước, là âm tắc, âm hữu thanh được hoàn chỉnh sớm hơn so với âm phía sau, âm xát và âm vô thanh.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số trường hợp nhiễm nấm phổi (aspergillus fumigatus) điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hồng Thái

Nấm phổi do Aspergillus không phải là bệnh hiếm gặp, nhưng nó thường bị ẩn trong các bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Ngày nay, với tình trạng gia tăng các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ bắt gặp nấm phổi ngày một tăng. Mặt khác, với tiến bộ vượt bậc của các kỹ thuật chẩn đoán, nấm phổi ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn. Mục tiêu: (1). Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của nấm phổi. (2). Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị những trường hợp bị nấm phổi. Đối tượng nghiên cứu: 15 trường hợp nghi nấm phổi được khám lâm sàng và thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán cũng như kết quả phẫu thuật, xét nghiệm sau mổ, xác định có nấm aspergillus fumigatus ở phổi từ 1/2007 đến 1/2008. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả. Kết quả. Nam: 8 TH, nữ 7 TH.Ho máu: 9 TH (60%).Chẩn đoán chắc chắn có nấm 12 TH (80%) (sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực thấy nấm ở 5 TH (34%), 7 TH phẫu thụât cắt phổi (47%). Có 8 TH (53%) điều trị nội khoa vì không còn chỉ định mổ. Kết luận: nấm phổi không phải là 1 bệnh hiếm gặp, nó thường xảy rs trên cơ địa suy giảm miễn dịch hoặc có tổn thương lao cũ với triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho máu.Về điều trị thì phẫu thuật là phương pháp hiệu quả đối với các TH u nấm, song với các TH suy giảm miễn dịch thì điều trị nội khoa là phương pháp hữu hiệu hơn

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Tật khúc xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn năm 2007

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Mai Quốc Tùng, Hoàng Linh, Đinh Mạnh Cường, Phạm Trọng Văn

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tật khúc xạ đặc biệt là cận thị là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực có thể phòng tránh được. Mục tiêu: Đánh giá thực trạng tình hình tật khúc xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả học sinh phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 đang học tập và sinh sống ở Tỉnh Bắc Kạn. Cách chọn mẫu ngẫu nghiên, phân tầng theo cấp học và địa dư. Các học sinh thuộc đối tượng nghiên cứu được khám mắt toàn diện. Tật khúc xạ được đo bằng máy đo khúc xạ tu động sau khi tra thuốc liệt điều tiết 30 phút. Kết quả: Đã có 3580 học sinh các cấp được khám, trong đó nam chiếm 40,3%, nữ chiếm 59,7%. Độ khúc xạ cầu tương đương (ĐCTĐ) trung bình là 0,95 ± 0,83D ở học sinh tiểu học (TH), 0,51 ± 0,69D ở học sinh trung học cơ sở (THCS) và 0,08 ± 1,49D ở học sinh trung học phổ thông (THPT). Tỷ lệ cận thị (ĐCTĐ = - 0,5D) ở học sinh TH là 2,4%, ở học sinh THCS là 5,9% và ở học sinh THPT là 17,0%. Có sự khác biệt về ĐCTĐ và tỷ lệ tật khúc xạ giữa học sinh cùng độ tuổi nhưng ở môi trường thành thị so với nông thôn (p < 0,01). Học sinh thành thị có nguy cơ bị cận thị cao hơn ở học sinh nông thôn. Kết luận: Tỷ lệ cận thị ở học sinh Bắc Kạn tương đối thấp so với các tỉnh thành khác trong cả nước. Nguyên nhân giảm thị lực chính là tật khúc xạ đặc biệt là cận thị. Nên có những biện pháp phòng chống cận thị áp dụng ở Tỉnh Bắc Kạn trong khi tỷ lệ tật khúc xạ còn chưa cao.

Xem chi tiết

Hóa sinh (Sách đào tạo CNXN) – Bộ Y Tế

Chủ biên: PGS. TS. Tạ Thành Văn

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2011

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Lời giới thiệu

Thực hiện Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế đã ban hành Chương trình khung đào tạo đại học ngành Y tế. Trường Đại học Y Hà Nội đã chủ động biên soạn nhiều tài liệu phục vụ cho công tác dạy và học cho các các môn khoa học cơ bản, y học cơ sở và các chuyên ngành thuộc lĩnh vực y học lâm sàng dựa trên khung chương trình trên nhằm từng bước xây dựng bộ sách chuẩn của trường phục vụ cho công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế.

Xem chi tiết

Hiệu quả đầu tư trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ y tế tại 15 đơn vị trực thuộc Bộ Y tế giai đoạn 1996-2004

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Phạm Thị Thanh Tân, Nguyễn Văn Tường

Trang thiết bị y tế (TTBYT) là phương tiện để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, đào tạo, chẩn đoán, điều trị và dự phòng. Mục tiêu: Đánh giá thực trạng và hiệu quả đầu tư trang thiết bị y tế phục vụ khoa học và công nghệ (KH&CN) giai đoạn 1996 - 2004. Đối tượng và phương pháp: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, phân tích tài liệu, phỏng vấn theo bộ câu hỏi, thảo luận nhóm và điều tra quan sát tại 15 đơn vị trực thuộc Bộ Y tế. Kết quả: (1). Thực trạng: Chỉ có 4% kinh phí mua sắm trang thiết bị y tế từ nguồn Sự nghiệp khoa học (SNKH). Các trang thiết bị y tế được mua sắm hoạt động tốt chiếm 95,8%, tỷ lệ thiết bị bị hỏng, thiếu kinh phí vận hành và không có nhu cầu sử dụng còn chiếm 4,2%; 80% đơn vị có mạng máy tính nội bộ. (2). Hiệu quả: Đã và đang triển khai 334 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và Nhà nước, góp phần đào tạo cho ngành y tế 419 học viên sau đại học, công bố 927 bài báo, rút ngắn thời gian điều trị từ 7,1ngày (1997) xuống còn 6,72 ngày (2003), đẩy lùi nhiều vụ dịch nguy hiểm. Kết luận: (1). Kinh phí mua sắm trang thiết bị từ nguồn SNKH quá ít. (2). Đầu tư trang thiết bị y tế bước đầu đã đưa lại hiệu quả trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, chẩn đoán, điều trị và dự phòng

Xem chi tiết