APOLIPOPROTEIN A1 VÀ APOLIPOPROTEIN B HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Đỗ Thị Khánh Hỷ

ApolipoproteinA1 (ApoA1) và ApolipoproteinB (APoB) là những yếu tố thay đổi rõ rệt hơn các thành phần lipid huyết thanh khác ở bệnh nhân tai biến mạch máu não. Mục tiêu: xác định hàm lượng ApolipoproteinA1, ApolipoproteinB và các thông số lipid huyết thanh khác ở nhóm bệnh nhân cao tuổi (> 60 tuổi) bị TBMMN. Đối tượng nghiên cứu: nhóm chứng: 40 người khoẻ mạnh; nhóm TBMMN: 40 bệnh nhân được chẩn đoán xác định TBMMN bằng chụp lớp cắt điện toán. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang, cả 2 nhóm được làm: cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL - C, LDL – C, Apo A1, Apo B. Kết quả: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các thông số lipid huyết thanh như Cho.TP; TG; HDL - C; LDL - C; tỷ số Cho.TP/HDL - C giữa nhóm chứng và nhóm TBMMN. Tỷ lệ ApoA1/ ApoB biến đổi nhiều nhất, sau đó đến ApoA1 và cuối cùng là ApoB đối với nhóm TBMMN. Những đối tượng có hàm lượng ApoA1 < 110 mg/dl có nguy cơ bị TBMMN cao gấp 2,5 những người có hàm lượng ApoA1 > 110 mg/dl. Những đối tượng có ApoB > 90 mg/dl có nguy cơ bị TBMMN cao gấp 6,9 lần so với người có ApoB < 90 mg/dl. Những người có tỷ số ApoA1/ ApoB < 1,2 có nguy cơ bị TBMMN cao gấp 9,8 lần so với người có ApoA1/ApoB > 1,2. Kết luận: hàm lượng ApoA1 giảm, ApoB tăng và tỷ số ApoA1/ApoB giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân bị TBMMN.

Xem chi tiết

Chức năng tế bào b và độ nhạy insulin ở bệnh nhân khởi phát đái tháo đường có nguy cơ nhiễm toan ceton

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân, Nguyễn Thị Thu

Nghiên cứu nhằm nhận xét chức năng tế bào β và độ nhạy insulin ở bệnh nhân khởi phát đái tháo đường có nguy cơ nhiễm toan ceton. Nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng trên 36 bệnh nhân đái tháo đường khởi phát có nguy cơ nhiễm toan ceton được điều trị và theo dõi theo đúng phác đồ để đạt tình trạng hết toan ceton trên lâm sàng và xét nghiệm. Kết quả cho thấy bệnh nhân đái tháo đường khởi phát có nguy cơ nhiễm toan ceton có chức năng tế bào β thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng, p < 0,001. Chức năng tế bào β tính theo HOMA2 B_C có mối tương quan thuận với tỷ số C0/G0, C30/G30, C30. Độ nhạy insulin của nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo HOMA2 S_C cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (p = 0,001). Chức năng tế bào β của bệnh nhân đái tháo đường khởi phát có nguy cơ nhiễm toan ceton thấp hơn so với nhóm chứng. Chức năng tế bào β tính theo HOMA2 B_C có mối tương quan thuận với tỷ số C0 /G0, C30 /G30, C30.

Xem chi tiết

Thông báo đầu tiên về nghiên cứu giá trị PIVKA - II trong chẩn đoán ung thư gan ở bệnh nhân Việt Nam nhiễm virus viêm gan b

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5

Tác giả: Bùi Xuân Trường, Nguyễn Khánh Trạch

Ung thư gan (UTG) rất phổ biến và có tỷ lệ tử vong cao. Alpha - fetoprotein (AFP) là dấu ấn sinh học duy nhất được sử dụng để chẩn đoán UTG tại Việt Nam, nghiên cứu các dấu ấn sinh học khác như PIVKA - II protein tạo ra do sự thiếu hụt vitamin K) còn rất hạn chế. Mục tiêu: bước đầu đánh giá vai trò của PIVKA - II trong chẩn đoán ung thư gan ở bệnh nhân Việt Nam nhiễm virus viêm gan B. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bao gồm 104 bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B (HBV) được chia làm bốn nhóm, người lành mang virus (NLMVR), viêm gan mạn tính (VGM), xơ gan (XG) và UTG. AFP được xác định bằng ELISA, PIVKA - II được xác định bằng Eitest PIVKA - II của công ty Eisai, Nhật Bản. Nồng độ HBV - DNA và kiểu gen của HBV được xác định tương ứng bằng real - time PCR và PCR - RFLP. Chẩn đoán UTG được xác định bằng mô bệnh học. Kết quả: PIVKA - II có độ nhạy cao hơn và độ đặc hiệu thấp hơn AFP ở tất cả các mức nồng độ phân tích. Kết hợp hai dấu ấn có độ đặc hiệu cao hơn và tỷ lệ chẩn đoán đúng tốt hơn. Nồng độ PIVKA - II và AFP đều tăng dần từ nhóm NLMVR đến VGM, XG và cao nhất ở nhóm UTG, sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Phân tích đơn biến cho thấy tuổi (≥ 50), kiểu gen C của HBV, AFP (≥ 20ng/mL) và PIVKA - II (≥ 40 mAU/mL) là những yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê đối với XG và UTG. Tuy nhiên, phân tích đa biến cho thấy chỉ có tuổi (≥ 50), kiểu gen C của HBV và PIVKA - II (≥ 40 mAU/mL) là những yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê đối với XG và UTG. Kết luận: PIVKA - II là dấu ấn sinh học có giá trị và có vai trò hỗ trợ tốt AFP trong chẩn đoán UTG.

Xem chi tiết

Bước đầu đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp Virus viêm gan B và virus viêm gan C trên bệnh nhân HIV (+) tại bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Vũ Tường Vân, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Điệp và Lê Khánh Trâm

Để đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp giữa vius viêm gan B, vius viêm gan C và HIV cũng như ảnh hưởng của đường lây truyền đối với những nhiễm trùng phối hợp này chúng tôi đã tiến hành kiểm tra HBsAg và antiHCV trên 427 trường hợp HIV (+) được phát hiện tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2002 kết quả cho thấy: 1. Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu có anti HCV (+) là 81,03%.Tỷ lệ HBsAg (%) ở bệnh nhân HIV (+) là 18,26%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm 2 loại virus viêm gan B & C ở nhóm đối tượng này là rất lớn (p < 0.0001). 2. Tỷ lệ đồng nhiễm cả virus viêm gan B, C ở bệnh nhân HIV (+) là 14,9%. 3. Tiêm chích ma túy là nguy cơ hàng đầu của đồng nhiễm HIV và HCV. Tỷ lệ nhiễm HCV ở bệnh nhân HIV do tiêm chích chiếm 88,5%; ở bệnh nhân vừa tiêm chích vừa quan hệ tình dục là 83,67% và ở nhóm nhiễm HIV do quan hệ tình dục tỷ lệ nhiễm HCV là 47,44%.

Xem chi tiết