Nghiên cứu tình trạng albumin máu và ảnh h¬ưởng của giảm albumin máu ở bệnh nhi tại khoa Điều trị tích cực bệnh viện Nhi trung ương

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hồng Tuấn Hòa, Phạm Văn Thắng

Nghiên cứu mô tả tiến cứu 146 bệnh nhi tại khoa ĐTTC bệnh viện Nhi TW từ 02/2004 - 07/2004 về các chỉ tiêu cận lâm sàng: albumin máu, điện giải đồ, khí máu và huyết học vào thời điểm lúc nhập viện và sau khoảng 24 giờ. Khoảng trống ion âm (bao gồm kali), kiềm dư dịch ngoại bào, bicarbonate chuẩn, canxi huyết thanh được tính toán và điều chỉnh theo albumin máu. Tần suất giảm albumin máu lúc nhập viện là 56,2%; tỷ lệ tử vong nhóm giảm albumin máu là 56,1%, sự khác biệt về tỷ lệ tử vong của hai nhóm giảm và không giảm albumin máu chưa thấy có ý nghĩa thống kê. Sau khi điều chỉnh theo albumin tỷ lệ của khoảng trống ion âm tăng ( > 18 mmol/l) tăng từ 32,3% lên 46,0% (n = 189); toan chuyển hóa có khoảng trống ion âm tăng từ 62,0% lên 77,2% (n = 79). Mặt khác, cũng sau khi điều chỉnh theo albumin thì tỷ lệ canxi toàn phần huyết thanh >= 2 mmol/l tăng từ 51,2% lên 69,3% (n = 215).

Xem chi tiết

Nhận xét kết quả điều trị xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày tá tràng bằng tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp với điều trị esomeprasole liều cao (8mg/h)

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Thị Chi, Đào Văn Long

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hiệu quả cầm máu đạt khá cao với việc nâng cao pH dịch vị > 6 trong xuất huyết tiêu hóa XHTH do loét dạ dày tá tràng. Mục tiêu: tìm hiểu tỷ lệ XHTH tái phát 72 giờ và 30 ngày, tỷ lệ tử vong, tỷ lệ can thiệp phẫu thuật, can thiệp nội soi, số lượng đơn vị máu cần truyền, thời gian nằm viện và an toàn của phương pháp điều trị tiêm cầm máu qua nội soi kết hợp với Esomeprazole liều cao. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: các bệnh nhân XHTH (nôn ra máu, đi ngoài phân đen) do loét dạ dày hành tá tràng và cầm máu thành công qua nội soi. Các BN được điều trị theo một phác đồ điều trị thống nhất: tiêm tĩnh mạch chậm Esomeprazole 80mg/ 30phút, sau đó truyền tĩnh mạch với tốc độ 8mg/ giờ 72 giờ. Sau liệu trình 3 ngày, duy trì uống 40mg/ ngày 27 ngày. Kết quả: nghiên cứu của chúng tôi gồm 55 bệnh nhân, 3/55 (5,5%) có XHTH tái phát trong 72 giờ và đều phải can thiệp nội soi lần 2. Không có bệnh nhân nào XHTH tái phát ở thời điểm ngày 30. Không có bệnh nhân nào can thiệp phẫu thuật trong 72 giờ và sau 30 ngày. 12/55 (21,8%) cần phải truyền máu (số đơn vị máu truyền trung bình là 1,02 ± 0,89) trong thời gian 30 ngày và thời gian nằm viện trung bình là 4,53 ± 1,13 ngày. Tác dụng phụ của phương pháp điều trị là rất ít (viêm tắc tĩnh mạch, sưng đỏ tại chỗ tiêm, phù nề), mức độ nhẹ, và thời gian ngắn không ảnh hưởng đến quá trình điều trị. Kết luận: nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sử dụng Esomeprazole liều cao là một biện pháp điều trị hỗ trợ có hiệu quả trong việc ngăn ngừa xuất huyết tiêu hóa tái phát với những ổ loét có nguy cơ cao.

Xem chi tiết

Một số yếu tố nguy cơ nhiễm hp ở trẻ em một số dân tộc Tây Nguyên năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Số 2

Tác giả: Lê Thọ, Nguyễn Văn Bàng, Hoàng Minh Hằng, Ngô Văn Toàn, Hoàng Thị Thu Hà

Nghiên cứu được thực hiện trên 1,186 trẻ em từ 6 tháng đến 15 tuổi tại Tây Nguyên với mục tiêu phân tích một số yếu tố nguy cơ của tình trạng nhiễm H. pylori ở trẻ em các dân tộc sống trên cao nguyên này. Kết quả cho thấy những trẻ đã từng sống tập thể có nguy cơ nhiễm H. pylori cao gấp 1,5 lần những trẻ chưa từng sống tập thể. Những trẻ em có tiền sử hoặc đang mắc bệnh đường tiêu hoá có nguy cơ nhiễm H. pylori cao gấp 1,4 lần những trẻ em khác. Những trẻ em sử dụng kháng sinh trên 4 lần/năm có nguy cơ nhiễm H. pylori thấp hơn 0,6 lần những trẻ em khác. Những trẻ sống trong các gia đình có sử dụng hố xí có tỷ lệ nhiễm H. pylori thấp hơn trẻ sống trong các gia đình không sử dụng hố xí. Trên mô hình phân tích hồi qui đa biến, chỉ có những trẻ em sử dụng kháng sinh dưới 3 lần trong vòng 12 tháng qua và trẻ em đã từng sống ở tập thể là có nguy cơ nhiễm H. pylori cao hơn những trẻ em khác từ 1,5 - 1,8 lần. Cần phân tích thêm các yếu tố từ cha mẹ của trẻ em để có những thông tin đầy đủ hơn về các yếu tố nguy cơ của nhiễm H. pylori trên trẻ em.

Xem chi tiết

Nghiên cứu hàm lượng một số hormon hướng sinh dục và sinh dục trong huyết thanh ở người sống trong vùng bị nhiễm chất da cam/dioxi

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Hà, Phạm Thiện Ngọc, Vũ Thị Phương, Trần Thị Lan Anh, Nguyễn Văn Tường

Một lượng lớn các chất trừ sâu diệt cỏ có chứa chất da cam/Dioxin mà quân đội Mỹ rải xuống nhiều vùng ở miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến tranh hoá học có tên gọi là chiến dịch Ranch Hand đã gây nên những hậu quả nặng nề tới môi trường và sức khoẻ con người Việt Nam và những hậu quả đó vẫn còn tồn tại cho đến nay. Nghiên cứu của chúng tôi về hàm lượng của các hormon hướng sinh dục và sinh dục trong huyết thanh của những nam giới có nguy cơ bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin đã chỉ ra rằng: 1. Hàm lượng FSH và LH huyết thanh ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm có biến động với mức độ khác nhau so với các nhóm chứng FSH và LH tăng có ý nghĩa ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm tại tỉnh H và tăng không có ý nghĩa ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm tại tỉnh B. so với nhóm chứng tại thành phố P; FSH và LH của nhóm CCBMN và nhóm CCBMB không khác biệt nhau có ý nghĩa. Tuy nhiên, những cá thể có FSH và LH huyết thanh cao (12IU/L) chiếm tỷ lệ nhiều hơn ở các nhóm nguy cơ bị phơi nhiễm so với các nhóm chứng. 2. Hàm lượng testossteron huyết thanh giữa các nhóm nghiên cứu chưa có sự khác biệt nhau có ý nghĩa (p> 0,05).

Xem chi tiết

Ngộ độc chì ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Trung ương: một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và nhận xét kết quả điều trị

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Ngô Tiến Đông, Phạm Thị Vân Anh, Phạm Văn Thắng

Nghiên cứu nhằm nhận xét một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ngộ độc chì cấp liên quan đến dùng thuốc không rõ nguồn gốc ở trẻ em. Kết quả cho thấy tuổi chủ yếu dưới 5 tuổi (13/15 bệnh nhân), thuốc cam không rõ nguồn gốc (10/15), lý do dùng thuốc: tưa lưỡi (40%), biếng ăn (33%). Trẻ sống ở nông thôn và miền núi (12/15). Bố mẹ có học vấn thấp (trung học và tiểu học 93%). Triệu chứng thường gặp nôn (11/15), co giật (11/15), thiếu máu (14/15) với Hb 9,3 ± 1,2 (g/dl, tăng en¬zyme gan, tăng lactac (15/15) protein dịch não tủy tăng (8/8): 2,5 ± 1,2 (g/l). Chụp CT sọ não có hình ảnh phù não (5/11). Bệnh nhân chẩn đoán muộn sau 24 h nhập viện, không được điều trị sớm ngộ độc chì sớm. Ngộ độc chì mức độ nặng: 14/15 (93%), BLL 162 ± 62 (mcg/dl). Tỷ lệ tử vong 20%. Từ các kết quả trên có thể thấy, Ngộ độc chì nặng có thể gặp do trẻ dùng thuốc nam không rõ nguồn gốc, bệnh khó chẩn đoán, nguy cơ tử vong cao.

Xem chi tiết

Những yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp trong thời kỳ có thai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Ngô Văn Tài

Tăng huyết áp (THA) trong thời kỳ có thai gây ra nhiều biến chứng cho thai phụ và thai nhi. Việc nghiên cứu những yếu tố nguy cơ của bệnh sẽ góp phần vào việc tiên lượng những biến chứng sẽ xảy ra cho thai phụ và thai nhi. Trong nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 8 năm 2003 (từ 320 thai phụ có THA) tại Viện BVBMTSS, cho kết quả như sau: Những yếu tố nguy cơ cho thai phụ và thai nhi gồm: Huyết áp tâm thu (HATT) ≥160 mmHg; Huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg; Protêin niệu≥ 3g/l; phù nặng; Protid toàn phần huyết thanh ≤ 40 g/l; u rê huyết thanh > 6,6 mmol/l; Crêatinin huyết thanh > 106 µmol/l; S.GOT≥70 UI/l; SGPT ≥70 UI/l; Số lượng tiểu cầu < 100000/mm3 máu; Acid uric > 400 µmol/l. Những biến chứng cho thai phụ gồm: chảy máu (3,1%); phù phổi (0%); rau bong non (4%); suy gan (1,9%); suy thận (4,4%); tử vong (0%); sản giật (12,5%). Những biến chứng thai nhi gồm: cân nặng <2500g (51,5%); đẻ non (36,3%); chết lưu (5,3%); chết sau đẻ (6,9%).

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Các týp gen cagA và vacA của vi khuẩn Helicobacter pylori trong ung thư dạ dày

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Thiện Trung, Quách Trọng Đức, Cao Minh Nga, Hồ Huỳnh Thùy Dương, Nguyễn Tuấn Anh, Trần Anh Minh

Mục tiêu: Nghiên cứu định týp gen cagA và các týp gen vacA của vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori), và mối liên quan đến ung thư dạ dày ở bệnh nhân khu vực miền Nam Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Từ tháng 12/2008 đến tháng 5/2010, tại bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các týp gen của vi khuẩn H. pylori bằng phương pháp multiplex PCR. Nghiên cứu bệnh chứng gồm 126 bệnh nhân ung thư được mổ cắt 2/3 dạ dày, nạo hạch R2, trong số này có 96 bệnh nhân ung thư dạ dày; và 93 bệnh nhân viêm dạ dày có H. pylori - dương tính được chẩn đoán bằng PCR, CLO test, và Giải phẫu bệnh. Kết quả: trong 162 bệnh nhân (71 ung thư và 91 viêm dạ dày), gen cagA (+) là 95,7% (150/157), ở bệnh nhân ung thư dạ dày là 100% so với 92,3% (84/91) viêm dạ dày, p = 0,018, tỷ số chênh = 1,845 (KTC 95%, 1,597 – 2,133). Gen vacA s1 là 98,1% (156/159), ở ung thư dạ dày là 100% (68/68) so với 96,7% (88/91 ) viêm dạ dày; gen vacA s2 là 3,3% (3/91) và chỉ gặp ở viêm dạ dày, với p = 0,261. Gen vacA m1 là 50,6% (81/160), ở ung thư dạ dày là 63,8% (44/69) so với 40,7% (37/91) viêm dạ dày; Gen vacA m2 là 49,4% (79/160), ung thư dạ dày là 36,2% (25/69) so với 59,3% (54/91) viêm dạ dày, p = 0,004, tỷ số chênh = 2,569 (KTC 95%, 1,348 – 4,895). Liên quan giữa gen cagA và vacA trên 157 bệnh nhân (66 ung thư dạ dày, 2 cagA (+) không xác định m, và 3 cagA (+) không xác định s; và 91 viêm dạ dày) đã được xác định. Ở 66 bệnh nhân ung thư dạ dày, cagA (+) là 100%, các týp gen vacA s1/m1 ở 63,6%, và vacA s1/m2 là 36,4%. Ở 91 viêm dạ dày, cagA (+) là 92,3% và cagA (-) là 7,7%. Các týp gen vacA trong nhóm này lần lượt là s1/m1 (42%), s1/m2 (55%) và s2/m2 (3%). Trong các trường hợp cagA (+), có sự khác biệt của các týp gen vacA s1/ m1 và vacA s1/m2 giữa ung thư và viêm dạ dày, p = 0,025, tỷ số chênh = 2,118 (KTC 95%, 1,094 – 4,1). Kết luận: gen cagA (+) có ở tất cả các trường hợp ung thư dạ dày, và cagA (-) chỉ gặp ở viêm dạ dày. Gen cagA (+) kết hợp với kiểu gen vacA m1 của các chủng H. pylori. Đặc biệt, ở chủng H. pylori có gen cagA (+) và gen vacA s1/m1 cho thấy nguy cơ cao liên quan đến bệnh ung thư dạ dày.

Xem chi tiết

Nghiên cứu một số đặc điểm tế bào máu ngoại vi và đông máu trên bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn được lọc máu liên tục

Tác giả: NGUYỄN TUẤN TÙNG

1. Có sự phục hồi hoạt tính một số yếu tố đông máu, kháng đông sinh lý; đồng thời có hiện tượng giảm ngưng tập tiểu cầu (NTTC) ở bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn (SNK) được lọc máu liên tục tĩnh - tĩnh mạch: hoạt tính các yếu tố đông máu II, V, VII, X trước lọc lần lượt là 42,01%; 47,85%; 41,08%; 56%; sau lọc tăng lên tương ứng là 47,12%; 61,44%; 51,19%; 63,51%. Hoạt tính protein C trước lọc là 42,82%; sau lọc tăng lên 50,43%. NTTC với ADP và collagen trước lọc là 51,67% và 54,43%; sau lọc giảm còn 39,29% và 38,52%. 2. Có một số liên quan giữa thay đổi chỉ số tế bào máu ngoại vi, chỉ số đông máu với mức độ bệnh và với kết quả điều trị. - Bệnh nhân SNK càng nặng theo APACHE II thì một số chỉ số tế bào máu ngoại vi, NTTC với ADP và collagen giảm càng nặng: ở nhóm bệnh nhân nặng, nồng độ huyết sắc tố, số lượng tiểu cầu là 100 g/l và 99,23 G/l; NTTC với ADP, collagen là 44,8% và 47,8%; còn nhóm bệnh nhân nhẹ, nồng độ huyết sắc tố, số lượng tiểu cầu là 108,21 g/l và 109,32 G/l; NTTC với ADP, collagen là 61,4% và 64,5%. - Sau lọc máu mức độ phục hồi một số chỉ số đông máu tốt hơn ở nhóm bệnh nhân được cứu sống so với nhóm sau đó tử vong: tỉ lệ prothrombin, hoạt tính yếu tố VII sau lọc máu ở nhóm bệnh nhân được cứu sống là 67,12% và 62,34%; còn nhóm sau đó tử vong là 55,26% và 43,86%. - Tỉ lệ prothrombin < 40%; tiểu cầu>< 30 g/l; d-dimer ≥ 500 µg/l sau lọc máu dự báo nguy cơ chảy máu với or lần lượt là 4,59; 23,53; 3,49. hoạt tính atiii giảm>< 30%; hoạt tính pc giảm>< 36% sau lọc máu dự báo nguy cơ tử vong với or là 8 và 11,91.>

Xem chi tiết