Khả năng chi trả chi phí y tế của người dân huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây (năm 2002)

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chúc, Nguyễn Thị Bích Thuận

Một số nghiên cứu tại các huyện nông thôn Việt Nam cho thấy người nghèo có xu hướng phải bán đồ đạc và vay tiền để chi trả cho chi phí y tế, trong khi đó người giầu thường có sẵn tiền để chi trả, chính điều này đã đẩy họ đứng trước nguy cơ rơi vào vòng xoắn đói nghèo. Mục tiêu: Xác định chi phí y tế trung bình của các hộ gia đình trong một năm. Xác định các nguồn vay và số tiền vay trung bình để chi cho y tế của các hộ gia đình. Đối tượng và phương pháp: 621 hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên từ mẫu chung của Fila Ba Vì tỉnh Hà Tây. Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc, chủ hộ được phỏng vấn mỗi tháng một lần kể từ tháng 7/2001 đến tháng 6/2002. Kết quả và kết luận: Các hộ gia đình đã sử dụng 519.000đ/năm (6,4% của thu nhập hộ gia đình) cho chi phí y tế. Thu nhập hàng năm ở nhóm nghèo là 6.576.000đ và 8.4% được dùng chi trả cho chi phí y tế. Có 16,9% hộ gia đình phải vay tiền để chi trả cho y tế, tỷ lệ này ở các hộ nghèo là 23,7%. Các gia đình thường vay mượn tiền từ các nguồn khác nhau để trả chi phí y tế, 85% vay của họ hàng, 50% vay từ làng giềng, 26% vay từ ngân hàng, 15% từ bạn bè, 9% từ tổ chức cộng đồng và 18% từ các nguồn tư nhân có lãi suất.

Xem chi tiết

Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết

Phân tích các chỉ định đình chỉ thai nghén do nhiễm rubella trong 6 tháng đầu năm 2011 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Số 2

Tác giả: Hoàng Thị Thanh Thủy, Phạm Thị Thanh Hiền

Nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu 914 thai phụ nhiễm Rubella đình chỉ thai nghén tại bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 6 tháng đầu năm 2011 cho thấy tỷ lệ phá thai do nhiễm Rubella chiếm 19,2% . Có 887 trường hợp có triệu chứng lâm sàng (sốt, phát ban hoặc nổi hạch). 614 trường hợp có nguy cơ cao được tư vấn đình chỉ thai nghén (ĐCTN) (67,2%). Có mối liên quan giữa lý do ĐCTN với tuổi thai của bệnh Rubella với p < 0,001. Nhóm tư vấn (ĐCTN) có tuổi thai dưới 16 tuần chiếm 97%.

Xem chi tiết

So sánh các chỉ số dinh dưỡng giữa các nhóm phân loại theo chỉ số BMI của bệnh nhân tại bệnh viện 198 năm 2012

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Đỗ Huy, Dzoãn Thị Tường Vi

Nghiên cứu nhằm so sánh các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng của các nhóm dinh dưỡng tốt và nhóm suy dinh dưỡng (chỉ số BMI) của bệnh nhân mới nhập viện tại bệnh viện 198. Kết quả cho thấy: các chỉ số liên quan tới nguy cơ dinh dưỡng khác của nhóm bệnh nhân suy dinh dưỡng đều cao hơn so với nhóm bệnh nhân dinh dưỡng tốt và nhóm thừa cân béo phì (TCBP). Tỷ lệ giảm cân > 5 % trong 6 tháng của bệnh nhân suy dinh dưỡng là 16,1%, cao hơn gấp 2 lần so với tỷ lệ này ở bệnh nhân dinh dưỡng tốt (7,4%) nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Có tới 37,5% bệnh nhân ở nhóm suy dinh dưỡng phải nằm tại giường, với nhóm bệnh nhân dinh dưỡng tốt, tỷ lệ này chỉ là 15,4% và nhóm thừa cân béo phì là 11,6%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Các dấu hiệu thực thể về giảm mỡ dưới da, giảm cơ ở nhóm thiếu dinh dưỡng là 22,6% và 6,5% đều cao hơn nhóm dinh dưỡng tốt (8,9% và 4,1%) và nhóm thừa cân béo phì (2,7% và 0,9%) (p < 0,05).

Xem chi tiết