Kiến thức phòng chống bệnh không lây nhiễm của người dân xã Huống Thượng, Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Hồng Chung, Hoàng Văn Minh, Lê Thanh Tuấn, Lại Đức Trường

Nghiên cứu nhằm mô tả kiến thức của người dân xã Huống Thượng (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) về bệnh không lây nhiễm. Kết quả phỏng vấn đối tượng cho thấy đối tượng đã kể tên được một số bệnh không lây nhiễm gây ra bởi các yếu tố nguy cơ: hút thuốc lá (Các bệnh phỗi/phế quản 81,9%; ung thư 50,9%), lười vận động (tim mạch 13,8%), ăn mặn (tăng huyết áp 41,7%; bệnh tim mạch 10%), ăn nhiều chất béo (thừa cân béo phì 49,9%). 81% nêu được xác định tăng huyết áp bằng đo huyết áp; 13,3% nêu được nhận biết đái tháo đường bằng xét nghiệm đường máu, 26,9% nêu được xác định thừa cân/béo phì bằng chỉ số BMI. Người dân cũng trả lời được các biến chứng của tăng huyết áp (tai biến mạch não 67%) và đái tháo đường (suy thận 11,8%). Người dân đã có những kiến thức nhất định về bệnh không lây nhiễm và mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với bệnh không lây nhiễm.

Xem chi tiết

Dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2011

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 4

Tác giả: Đào Thị Hồng Huệ, Lê Hồng Phượng, Lê Thị Hương, Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 382 trẻ dưới 5 tuổi và bà mẹ của trẻ tại xã Xuân Quang, huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang năm 2011 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể thấp còi cao nhất là 22,8% trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm đến 6%, tiếp đến là suy dinh dưỡng thể thiếu cân (18,1%) và thấp nhất là suy dinh dưỡng thể gày còm, chiếm 14,1%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng xuất hiện sớm và có khuynh hướng tăng lên theo nhóm tuổi ở cả ba thể suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi và gày còm, cao nhất ở nhóm 36 - 47 tháng tuổi. Có mối liên quan giữa tình trạng thiếu gạo ăn của gia đình với suy dinh dưỡng thể thấp còi. Bà mẹ có kiến thức sai về chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ, cho ăn bổ sung và thực hành chăm sóc trẻ chưa đúng làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi.

Xem chi tiết

Đánh giá thực trạng và hiệu quả can thiệp bằng truyền thông và uống viên sắt cho phụ nữ có thai thiếu máu người dân tộc Sán dìu tại huyện Đồng Hỷ - Thái nguyên.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Tạ Quốc Bản, Lê Minh Chính

Thiếu máu ở phụ nữ có thai (PNCT), trong đó phổ biến là tình trạng thiếu máu dinh dưỡng, có tầm quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Có nhiều chương trình chăm sóc và phòng chống thiếu máu dinh dưỡng, tuy nhiên, các vấn đề mang tính đặc thù của người dân tộc thiểu số, như người Sán Dìu chưa được đề cập tới. Bởi vậy, đề tài này đã được thực hiện, với mục tiêu: mô tả thực trạng thiếu máu của phụ nữ có thai người dân tộc Sán Dìu, xây dựng và đánh giá hiệu qủa mô hình can thiệp phòng chống thiếu máu cho phụ nữ có thai người dân tộc Sán Dìu, ở một số xã miền núi huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: PNCT, bà mẹ nuôi con bú (BMNCB), phụ nữ có chồng có 1 con, chưa có con tuổi 15 - 49 là dân tộc Sán Dìu. Nghiên cứu mô tả và can thiệp cộng đồng. Cỡ mẫu mô tả: n = 1384 Mẫu can thiệp n = 325. Các chỉ số nghiên cứu là tỷ lệ KAP đạt và không đạt về vệ sinh môi trường (VSMT), dinh dưỡng hợp lý (DDHL), phòng chống thiếu máu (PCTM), tỷ lệ thiếu máu (Hb < 110g/l), giá trị năng lượng... Can thiệp 18 tháng: 01/04/2007 - 9/2008 tại xã Nam Hòa, xã Linh Sơn đối chứng. Kết quả: tỷ lệ PNCT có SLHC < 3,5triệu là 40,93%, có 54,42% và 68,37% PNCT với Hb và MCH ở mức thiếu máu nhược sắc, ferritn < 30mg/l là 42,79%, nhiễm giun móc 47,91%. Kiến thức, thái độ và thực hành về VSMT, DDHL và PCTM của phụ nữ tuổi sinh đẻ huyện Đồng Hỷ còn thấp, các điểm không đạt còn ở mức cao. Nghiên cứu xây dựng mô hình can thiệp "Giáo dục PCTM phụ nữ Sán Dìu". Bản chất mô hình là Truyền thông-Giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) cho PNCT. Nòng cốt của mô hình là các trưởng xóm, nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) và cộng tác viên dân số (CTVDS). Sau 18 tháng can thiệp, đã hoàn thành 7 đợt hoạt động với 11 nội dung, gồm: TT - GDSK, phát tờ rơi, trưng bầy Pano, làm vệ sinh hộ gia đình và đường làng, giao lưu văn hóa văn nghệ, cấp viên sắt và thuốc tẩy giun... Mô hình can thiệp ở xã Nam Hoà đã nâng cao được kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ tuổi sinh đẻ, các chỉ số hiệu quả can thiệp có kết quả rõ rệt. Giá trị năng lượng và các chất dinh dưỡng trước can thiệp còn ở mức thiếu đói. Sau 18 tháng can thiệp, giá trị năng lượng khẩu phần và các chất dinh dưỡng đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ thiếu máu ở PNCT giảm 30,7%, Hb tăng 10,9g/l. Giun móc (+) giảm 17,27%. Đào tạo tăng cường năng lực cán bộ thôn xóm: bộ 3 "trưởng xóm, NVYTTB và CTVDS". Xây dựng, củng cố và tổ chức lại hoạt đông của bộ 3 “trưởng xóm, NVYTTB và CTVDS”. Mô hình là một công trình nghiên cứu đặc thù dành cho người dân tộc thiểu số miền núi, đó là mô hình dành cho người Sán Dìu và do người Sán Dìu thực hiện. Kết luận: mô hình đã làm thay đổi KAP về VSMT, DDHL và PCTM của phụ nữ Sán Dìu xã Nam Hòa, cải thiện năng lượng và dinh dưỡng khẩu phần, đã làm giảm 30,7% tỷ lệ thiếu máu. Các vùng dân tộc thiểu số miền núi có thể tham khảo ứng dụng mô hình này.

Xem chi tiết

Đặc điểm đối tượng sử dụng ma tuý của ba huyện, tỉnh Quảng Trị năm 2008

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trần Kim Phụng, Nguyễn Minh Sơn

Mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm chung và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của đối tượng sử dụng matuý. (2) Xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong đối tượng sử dụng ma tuý tại Quảng Trị năm 2008. Đối tượng vàphương pháp nghiên cứu: một điều tra cắt ngang với 180 đối tượng nghiện chích ma tuý được tiến hànhtrên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2008. Kết quả: phát hiện tỷ lệ nhiễm HIV là 3,9%. Các loại ma tuýthường xuyên sử dụng là heroin 52,8%, cần sa 19,7%, thuốc an thần 18,5%, các loại khác 9%. Cónhiều cách sử dụng ma tuý: tiêm chích chiếm tỷ lệ 49,4%, hút 44,4%, hít 6,1%. Lý do khiến họ sa vàocon đường nghiện chích là: do bạn bè rũ rê 55,6%, do tò mò 39,4%, buồn, chán đời là 1,7%, bị épbuộc 0,6%. Kết luận: đặc điểm của người sử dụng ma tuý tại tỉnh Quảng Trị chủ yếu là nam giới còntrẻ ở độ tuổi lao động, không có việc làm. Về hành vi SDMT, có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê vềhành vi hút và chích ma tuý theo địa bàn sống của đối tượng. Lý do SDMT chủ yếu là do bạn bè rủ rê.Heroin là loại thuốc thường xuyên sử dụng. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm đối tượng nghiên cứu là 3,9%.

Xem chi tiết

Kiến thức-thực hành về bệnh đái tháo đường tại huyện Quảng Xương - Thanh Hoá năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trần Minh Đức, Trần Thị Phúc Nguyệt

Nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức và thực hành về bệnh đái tháo đường tại huyện Quảng Xương, Thanh Hoá năm 2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức của người dân về bệnh đái tháo đường: Tỷ lệ người dân biết nguyên nhân gây nên bệnh đái tháo đường là 52,3 %, biết các yếu tố nguy cơ gây nên bệnh đái tháo đường là 51,2 %, biết cách phát hiện sớm bệnh đái tháo đường là 37,8 % và các biện pháp phòng bệnh đái tháo đường là 52 %. Thực hành của người dân về phòng bệnh đái tháo đường: Tỷ lệ người dân có thói quen ăn đồ ngọt và chất béo hàng ngày là 54%, tham gia tập luyện thể dục thể thao là 35,8 % . Tỷ lệ người tập luyện với thời gian trên 60 phút/ lần là 49,0 %; từ 30 - 60 phút/ lần chiếm 27,3 % và tập luyện dưới 30 phút/ lần chiếm 23,8 %. Từ đó có thể kết luận, thực trạng kiến thức và thực hành của người dân vê bệnh đái tháo đường là cơ sở dinh dưỡng hợp lý.

Xem chi tiết

Ứng dụng kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang trong chẩn đoán trước sinh một số bệnh tật di truyền

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.1

Tác giả: Hoàng Thu Lan

Giảm tỷ lệ sinh ra những trẻ dị tật là ước mơ của toàn thế giới. Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề này cũng đang được quan tâm nghiên cứu rất nhiều. Kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang (FISH) là một kỹ thuật có thể ứng dụng hữu hiệu để chẩn đoán trước sinh và một số bất thường cấu trúc nhỏ của nhiễm sắc thể (NST) trong bệnh di truyền.. Mục tiêu: Chẩn đoán trước sinh các bất thường NST 13, 18, 21, X, Y bằng kỹ thuật FISH và phân tích NST từ tế bào ối. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 23 mẫu dịch ối tuần thai 15–22 nguy cơ cao bị dị tật. Kỹ thuật FISH và phân tích NST từ tế bào ối. Kết quả: 23/23 mẫu kết quả FISH phù hợp kết quả phân tích NST, đã phát hiện: 4 hội chứng Down (trisomy 21); 5 hội chứng Turner (45,X), 01 hội chứng Patau (trisomy 13), 01 hội chứng Edward (trisomy 18), 01 tam bội,. Kết luận: Ứng dụng kỹ thuật FISH từ tế bào ối có đối chiếu kết quả phân tích NST đã phát hiện trước sinh bất thường NST 13, 18, 21, X, Y . Từ khoá: bất thường NST, FISH (lai tại chỗ huỳnh quang).

Xem chi tiết