Theo dõi dọc một năm bệnh sâu răng ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS An Lạc, TP Hồ Chí Minh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Bích Vân, Hoàng Tử Hùng

Nghiên cứu thuộc dự án nghiên cứu về “các yếu tố nguy cơ sâu răng, liên kết những bằng chứng cá nhân và cộng đồng” của Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM. Mục tiêu: xác định những yếu tố thật sự làm trẻ có nguy cơ cao tăng sâu răng sau một năm để từ đó xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng trong tương lai của học sinh 12 tuổi trường THCS An Lạc quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 149 học sinh 12 tuổi được khám sâu răng theo chỉ số ICDAS và thu thập các yếu tố nguy cơ lần 1 (tháng 3/2006) và được tái đánh giá tình trạng sâu răng sau 1 năm (tháng 3/2007). Các yếu tố nguy cơ được sử dụng để phân tích mối liên quan với sự thay đổi tình trạng sâu răng sau 1 năm gồm có: độ nhớt nước bọt, pH nước bọt không kích thích, lưu lượng nước bọt kích thích, khả năng đệm của nước bọt, số lượng Streptococcus mutans, số lượng Lactobacilli, pH mảng bám, tình trạng vệ sinh răng miệng, trình độ học vấn của cha, trình độ học vấn của mẹ, mức thu nhập gia đình, chế độ ăn có đường và axít giữa các bữa ăn chính, số lần chải răng, sang thương sâu răng mới chớm (đốm trắng/ nâu), có sâu răng đến ngà ban đầu. Kết quả: tình trạng sâu răng được đánh giá ở 2 ngưỡng chẩn đoán khác nhau: ở mức độ S3 (sâu từ ngà) tỷ lệ % sâu răng là 67,1% và số trung bình S3MT MR là 4,29, ở mức độ S1 (sâu men và ngà) tỷ lệ % sâu răng là 99,3% và số trung bình S1MT-MR là 13,12. Về sự gia tăng sâu răng sau 1 năm, ở mức S1, sau 1 năm có 81,2% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 4,6 mặt răng sâu mới; ở mức S3 có 49% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 1,09 mặt răng sâu mới. Khi phân tích mối liên quan giữa từng yếu tố với sự phân bố tỷ lệ % trẻ không tăng sâu răng (DS3MT - MR = 0) và tăng sâu răng cao (DS3MT-MR ≥ 2) kết quả cho thấy có 5 yếu tố liên quan có ý nghĩa: pH nước bọt không kích thích, yếu tố khả năng đệm của nước bọt, yếu tố pH mảng bám, yếu tố VSRM và yếu tố có sang thương sâu đến ngà ban đầu. Khi phân tích hồi quy đa yếu tố, chỉ có hai yếu tố là yếu tố “Khả năng đệm của nước bọt không tốt” (p = 0,023) và yếu tố “Có sang thương sâu đến ngà ban đầu” (p < 0,001) là 2 yếu tố nguy cơ thực sự làm trẻ có nguy cơ tăng tối thiểu 2 mặt răng sâu sau một năm. Xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng bao gồm 2 yếu tố: khả năng đệm của nước bọt không tốt và có sang thương sâu đến ngà ban đầu đạt được khả năng tiên đoán sâu răng rất cao với độ nhạy là 100%, độ chuyên 95,5%, PV(+) là 86,7% và PV(-) là 100%. Kết luận: nghiên cứu đã xây dựng được 1 mô thức tiên đoán sâu răng có giá trị tiên đoán sâu răng cao. Khuyến nghị: cần đánh giá cả sang thương sâu răng sớm để tránh ước lượng dưới tình trạng sâu răng. Chiến lược dự phòng sâu răng nên tập trung vào nhóm có nguy cơ sâu răng cao cụ thể là nhóm trẻ đang có sang thương sâu ngà trong miệng.

Xem chi tiết

Tình hình xây dựng và sử dụng nhà tiêu hộ gia đình ở xã An Mỹ - Huyện Bình Lục - Tỉnh Hà Nam 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Chu Văn Thăng, Vũ Diễn, Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Ngọc Lam, Nguyễn Thị Hương Giang, Đặng Ngọc Lan

Với mong muốn xây dựng một bức tranh rõ nét về thực trạng nhà tiêu ở nông thôn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, đề tài được thực hiện với Mục tiêu mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng và bảo quản nhà tiêu hộ gia đình tại xã An Mỹ - Hà Nam năm 2011. Kết quả cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu riêng là 97,7%, nhưng tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn thấp (35,1%). Các loại nhà tiêu hợp vệ sinh ở xã điều tra: tự hoại (76%); biogas (1,7%); hai ngăn (1,3%); thấm dội nước (1,3%). Việc sử dụng và bảo quản nhà tiêu ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh hộ gia đình. Theo điểm nguy cơ, tỷ lệ nhà tiêu ở mức sạch, ít nguy cơ là 84,2%. Yếu tố liên quan đến sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là do sử dụng phân bón trong nông nghiệp.

Xem chi tiết

Chi phí điều trị trực tiếp hen phế quản theo mức độ nặng tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai năm 2006

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Nguyễn Thu Hoài , Ngô Quý Châu, Sinh viên y6 khóa 2001-2007

Nghiên cứu nhằm đánh giá chi phí điều trị của bệnh nhân HPQ tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai. Kết quả cho thấy, chi phí trung bình cho 1 đợt điều trị nội trú là 8.111.444 VNĐ/BN. Chi phí thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất 80,2% trong đó: thuốc điều trị hen chiếm 43,4%, thuốc kháng sinh chiếm 32,3%. Mức độ bệnh càng nặng thì chi phí càng cao: Chi phí trung bình cho nhóm BN hen nhẹ là 1.959.567 VNĐ/BN, chi phí trung bình cho nhóm BN hen nguy kịch là 22.544.468 VNĐ/BN. Kết luận: Chi phí lớn, tỷ lệ thuận mức độ nặng của bệnh.

Xem chi tiết

Hỗ trợ xă hội và mối liên quan với trầm cảm của bệnh nhân HIV/AIDS tại 5 phòng khám ngoại trú, Hà Nội, năm 2013

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Thị Ngọc Mai, Bùi Thị Minh Hảo, Trần Khánh Toàn, Lê Minh Giang

Hỗ trợ xã hội có liên quan chặt chẽ tới tình trạng sức khỏe thể chất và tâm thần. Mục đích của nghiên này là mô tả mức độ hỗ trợ xã hội nhận được và mối liên quan với trầm cảm trên 573 bệnh nhân HIV/AIDS đang được điều trị ARV tại 5 phòng khám ngoại trú của Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy 97,2% bệnh nhân HIV/AIDS nhận được các hỗ trợ xã hội, với điểm số trung bình là 8,14 ± 3,14; cao nhất là hỗ trợ về tình cảm và thấp nhất là hỗ trợ tài chính; % có mẫu thuẫn xã hội là 28,8. Hạn chế hỗ trợ xã hội nhận được, có mâu thuẫn trong các mối quan hệ và ít tiếp xúc với bạn bè và người thân có ảnh hưởng lớn tới tình trạng trầm cảm của bệnh nhân HIV/AIDS. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra phụ nữ, người lớn tuổi, và những nhóm có tình trạng kinh tế xã hội thấp có nguy cơ của trầm cảm đồng thời có điểm số hỗ trợ xã hội nhận được thấp hơn các nhóm khác. Các chương trình can thiệp cần chú ý đến các nhóm yếu thế này trong đó việc tạo các nguồn hỗ trợ xã hội hoặc thay thế hỗ trợ xã hội bằng hỗ trợ của nhà nước là hết sức cần thiết trong bối cảnh cắt giảm kinh phí.

Xem chi tiết

Tình hình xây dựng và sử dụng nhà tiêu hộ gia đình ở xã miền nú huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Vũ Diễn, Lê thị Thanh Xuân, Đỗ Thị Mùi, Lò Thị Mai Hoa, Nguyễn Hà Thắng, Hoàng thị Thu Hà

Với mong muốn xây dựng một bức tranh rõ nét về thực trạng nhà tiêu ở khu vực miền núi phía Bắc, đề tài được thực hiện nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến xây dựng, sử dụng và bảo quản nhà tiêu hộ gia đình tại xã Tân Hòa - huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên năm 2011. Kết quả cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu riêng đạt 85%, nhưng tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu đạt tiêu chuẩn vệ sinh thấp (9,48%). Các loại nhà tiêu hợp vệ sinh ở xã điều tra: hai ngăn (66,7%); tự hoại (11,4%); biogas (4,3%); thấm dội nước (0,4%). Việc sử dụng và bảo quản không tốt ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh các nhà tiêu. Điểm trung bình nguy cơ các loại nhà tiêu là: nhà tiêu hai ngăn (0,59); nhà tiêu tự hoại (0,10); nhà tiêu thấm dội nước (0,74). Đã xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và sử dụng nhà tiêu vệ sinh là làm nông nghiệp, hộ nghèo, thiếu hiểu biết về nhà tiêu hợp vệ sinh. Từkết quả nghiên cứu, các tác giả đã đề xuất các biện pháp để cải thiện tình hình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình với chính quyền và nhân dân địa phương.

Xem chi tiết