Dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ dưới 5 tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2011

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 4

Tác giả: Đào Thị Hồng Huệ, Lê Hồng Phượng, Lê Thị Hương, Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 382 trẻ dưới 5 tuổi và bà mẹ của trẻ tại xã Xuân Quang, huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang năm 2011 nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể thấp còi cao nhất là 22,8% trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm đến 6%, tiếp đến là suy dinh dưỡng thể thiếu cân (18,1%) và thấp nhất là suy dinh dưỡng thể gày còm, chiếm 14,1%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng xuất hiện sớm và có khuynh hướng tăng lên theo nhóm tuổi ở cả ba thể suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi và gày còm, cao nhất ở nhóm 36 - 47 tháng tuổi. Có mối liên quan giữa tình trạng thiếu gạo ăn của gia đình với suy dinh dưỡng thể thấp còi. Bà mẹ có kiến thức sai về chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ, cho ăn bổ sung và thực hành chăm sóc trẻ chưa đúng làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi.

Xem chi tiết

Đặc điểm đối tượng sử dụng ma tuý của ba huyện, tỉnh Quảng Trị năm 2008

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trần Kim Phụng, Nguyễn Minh Sơn

Mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm chung và hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV của đối tượng sử dụng matuý. (2) Xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong đối tượng sử dụng ma tuý tại Quảng Trị năm 2008. Đối tượng vàphương pháp nghiên cứu: một điều tra cắt ngang với 180 đối tượng nghiện chích ma tuý được tiến hànhtrên địa bàn tỉnh Quảng Trị năm 2008. Kết quả: phát hiện tỷ lệ nhiễm HIV là 3,9%. Các loại ma tuýthường xuyên sử dụng là heroin 52,8%, cần sa 19,7%, thuốc an thần 18,5%, các loại khác 9%. Cónhiều cách sử dụng ma tuý: tiêm chích chiếm tỷ lệ 49,4%, hút 44,4%, hít 6,1%. Lý do khiến họ sa vàocon đường nghiện chích là: do bạn bè rũ rê 55,6%, do tò mò 39,4%, buồn, chán đời là 1,7%, bị épbuộc 0,6%. Kết luận: đặc điểm của người sử dụng ma tuý tại tỉnh Quảng Trị chủ yếu là nam giới còntrẻ ở độ tuổi lao động, không có việc làm. Về hành vi SDMT, có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê vềhành vi hút và chích ma tuý theo địa bàn sống của đối tượng. Lý do SDMT chủ yếu là do bạn bè rủ rê.Heroin là loại thuốc thường xuyên sử dụng. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm đối tượng nghiên cứu là 3,9%.

Xem chi tiết

Hcv - rna và kiểu gen virus viêm gan c (hcv) ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (tnt) tại Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Vũ Thị Tường Vân

Xác định tỷ lệ HCV - RNA ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (TNT) có anti - HCV (+) và mô tả kiểu gen của virus viêm gan C ở bệnh nhân chạy TNT có HCV - RNA (+). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành trên 70 bệnh nhân chạy thận nhân tạo có anti - HCV (+) tại bệnh viện Bạch Mai trong thời gian 2 năm (2006 – 2008). Phương pháp nghiên cứu điều tra ngang, HCV - RNA được xác định bằng kỹ thuật Real - time RT - PCR với bộ sinh phẩm COBAS® AmpliPrep/ COBAS® TaqMan® HCV Test. (Roche). Kiểu gen HCV được xác định bằng kỹ thuật Real – time RT - PCR. Kết quả và kết luận: Trong số 70 bệnh nhân chạy TNT có anti - HCV (+), 64 trường hợp có HCV - RNA chiếm 91,43% cho thấy mối nguy cơ lớn lây nhiễm chéo cho những bệnh nhân ở cùng một trung tâm lọc máu. 36 trường hợp (56,25%) có tải lượng virus (viral load - ước lượng số virus có trong máu) > 106 copies/ml. Kiểu gen 6 (50%) chiếm tỷ lệ cao nhất, kiểu gen 1 (43,75%), có 4 trường hợp nhiễm phối hợp hai kiểu gen: một trường hợp nhiễm phối hợp 1 và 2 (1,56%) và 3 trường hợp nhiễm phối hợp 6 và 2 (4,69%).

Xem chi tiết

Bước đầu đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp Virus viêm gan B và virus viêm gan C trên bệnh nhân HIV (+) tại bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Vũ Tường Vân, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Điệp và Lê Khánh Trâm

Để đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp giữa vius viêm gan B, vius viêm gan C và HIV cũng như ảnh hưởng của đường lây truyền đối với những nhiễm trùng phối hợp này chúng tôi đã tiến hành kiểm tra HBsAg và antiHCV trên 427 trường hợp HIV (+) được phát hiện tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2002 kết quả cho thấy: 1. Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu có anti HCV (+) là 81,03%.Tỷ lệ HBsAg (%) ở bệnh nhân HIV (+) là 18,26%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm 2 loại virus viêm gan B & C ở nhóm đối tượng này là rất lớn (p < 0.0001). 2. Tỷ lệ đồng nhiễm cả virus viêm gan B, C ở bệnh nhân HIV (+) là 14,9%. 3. Tiêm chích ma túy là nguy cơ hàng đầu của đồng nhiễm HIV và HCV. Tỷ lệ nhiễm HCV ở bệnh nhân HIV do tiêm chích chiếm 88,5%; ở bệnh nhân vừa tiêm chích vừa quan hệ tình dục là 83,67% và ở nhóm nhiễm HIV do quan hệ tình dục tỷ lệ nhiễm HCV là 47,44%.

Xem chi tiết