Điều trị gãy kín hai xương cẳng chân bằng kết hợp xương nẹp vít xâm lấn tối thiểu

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Ngô Văn Toàn

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị gãy kín hai xương cẳng chân bằng kết hợp xương nẹp vít xâm lấn tối thiểu và nhận xét một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị trên bệnh nhân (BN) gẫy 2 xương cẳng chân tại khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Việt Đức từ 2007- 2009. Thiết kế thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tự đối chứng trên 38 bệnh nhân gãy kín xương cẳng chân ở người lớn bằng phương pháp mổ kết hợp xương nẹp vít xâm lấn tối thiểu, theo dõi liên tục cho tới khi tháo nẹp. Kết quả: 73,32% bệnh nhân gặp ở nhóm 16- 49 tuổi; Bệnh nhân ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao 73,68%; Gãy phức tạp và gãy có mảnh rời chiếm tỷ lệ khá cao (39,47% và 34,21%). Tai nạn giao thông là chủ yếu và cũng là nguyên nhân của các bệnh nhân bị gãy phức tạp; 94,74% các trường hợp cho kết quả điều trị tốt và rất tốt, Tất cả các bệnh nhân đều khỏi trước 10 tháng, liền xương trước 6 tháng 21,6% Những bệnh nhân gẫy xương có mảnh rời và gẫy phức tạp có nguy cơ thời gian điều trị khỏi sau 6 tháng gấp 5 lần so với những bệnh nhân chỉ gẫy đơn giản. Kết luận: Tất cả các bệnh nhân đều khỏi trước 10 tháng, 94,74% các trường hợp cho kết quả điều trị tốt và rất tốt, liền xương trước 6 tháng 21,6%. Gãy phức tạp là yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

Xem chi tiết

Nồng độ adiponectin huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 phát hiện lần đầu

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phạm Thị Thu Vân, Trần Khánh Chi, Nguyễn Khoa Diệu Vân, Phạm Thiện Ngọc

Adiponectin là một adipokin được mô mỡ bài tiết và có liên quan đến một số bệnh [7, 8]. Việc xác định sớm nồng độ adiponectin trong huyết thanh có thể giúp phát hiện sớm những trường hợp có nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ typ 2, đồng thời giúp theo dõi đáp ứng điều trị, tiên lượng bệnh ĐTĐ typ 2. Mục tiêu: (1) Xác định nồng độ adiponectin huyết thanh ở người bình thường, ở nhóm ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu; (2) Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ adiponectin với một số yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ typ 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu trên 35 người khỏe mạnh đến khám sức khỏe định kỳ, không có rối loạn chuyển hóa glucose và 55 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu điều trị ngoại trú tại khoa Nội tiết - ĐTĐ bệnh viện Bạch Mai. Adiponectin huyết thanh được xác định bằng phương pháp ELISA. Kết quả: (1) Nồng độ adiponectin huyết ở nhóm người bình thường là 9,5 ± 2,2 µg/ml và ở nhóm ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu là 6,3 ± 2,5 µg/ml. (2) Tương quan của adiponectin huyết thanh với nồng độ glucose huyết tương lúc đói có r = - 0,44; p < 0,001, với triglyceride huyết thanh có r = - 0,24; p < 0,001, với cholesterol huyết thanh có r = - 0,19; p < 0,001. Kết luận: (1) Nồng độ adiponectin huyết thanh trung bình nhóm ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu là: thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. (2) Có mối tương quan nghịch của adiponectin với nồng độ glucose huyết tương lúc đói, triglycerid và cholesterol huyết tương.

Xem chi tiết

Chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm trong cùng một cơ thể người vợ có tiên sử sảy thai liên tiếp nhiều lần

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Văn Rực

Rối loạn nhiễm sắc thể (NST) cân bằng ở bố mẹ dẫn đến làm tăng nguy cơ vô sinh, sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm phát hiện các bất thường NST ở cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và tư vấn về nguy cơ sinh sản ở cặp vợ chồng này. Kết quả cho thấy người chồng có karyotyp bình thường là 46,XY, người vợ có karyotyp là 45,XX,t(13q;14q),t(3;16)(q22;q22). Cặp vợ chồng này cần được tư vấn về nguy cơ sinh sản.

Xem chi tiết

Một số hình ảnh siêu âm thai liên quan với thai hội chứng down

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hoàng Thị Ngọc Lan, Trần Thị Thanh Hương, Đoàn Thị Kim Phượng, Trần Danh Cường

Siêu âm thai có thể phát hiện sớm những thai có nguy cơ cao bị hội chứng Down (HCD). Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu: Xác định một số dấu hiệu siêu âm thai liên quan với thai có hội chứng Down. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 612 thai phụ mang thai > 12 tuần được siêu âm thai để phát hiện những thai có hình ảnh siêu âm bất thường như tăng chiều dày da gáy, dị tật tim.hẹp tá trang... Những thai này chẩn đoán xác định HCD dựa vào phân tích NST thai từ tế bào dịch ối hoặc theo dõi sau sinh. Kết quả: 36/612 thai có hình ảnh siêu âm bất thường thì có 11/12 thai HCD. Có 6/12 thai HCD có tăng chiều dày da gáy, 3/12 thai HCD có hẹp tá tràng; 1/12 thai HCD có ống thông nhĩ thất; 1/12 thai HCD bị nang tuyến phổi, 1/12 thai HCD có hình ảnh siêu âm thai bình thường. Dấu hiệu hay gặp ở thai HCD là tăng chiều dày da gáy và hẹp tá tràng. Với ngưỡng sàng lọc cho dày da gáy ở 3 tháng đầu > 3mm và 3 tháng giữa > 6mm thì tỷ lệ phát hiện dựa vào hai dấu hiệu này tương ứng là 50% và 25%; tỷ lệ dương tính giả là 0,83% và 0%. Kết luận: Hai dấu hiệu siêu âm thai liên quan nhiều với thai HCD là tăng chiều dày da gáy và hẹp tá tràng trong đó dấu hiệu tăng chiều dày da gáy có thể phát hiện sớm ngay từ 3 tháng thai đầu. Từ khoá: Siêu âm thai, dày da gáy, hội chứng Down

Xem chi tiết

Nghiên cứu nồng độ adiponectin huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 phát hiện lần đầu có biến chứng tim mạch

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Phạm Thị Thu Vân, Phạm Thiện Ngọc, Nguyễn Khoa Diệu Vân

Biến chứng tim mạch (BCTM) là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở BN ĐTĐ typ 2. Định lượng adiponectin huyết thanh có giá trị tiên lượng, dự báo tình trạng kháng insulin, một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch ở BN ĐTĐ typ 2. Mục tiêu: 1) Nghiên cứu nồng độ adiponectin huyết thanh ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM và 2) mối liên quan giữa nồng độ adiponectin huyết thanh với các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM. Đối tượng & phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang với 31 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có BCTM và 106 BN ĐTĐ typ 2 chưa có BCTM.. Định lượng nồng độ Adiponectin bằng phương pháp ELISA. Kết quả: Nồng độ adiponectin huyết thanh ở BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM là 5.7 ± 2.1 µg/mL và ở BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu chưa có BCTM là 7,4 ± 2,9 µg/mL. Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ adiponectin với nồng độ glucose máu, HbA1C, cholesterol, triglycerid. và tương quan thuận với nồng độ HDL- C. Kết luận: 1)Nồng độ adiponectin ở BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM thấp hơn so với BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu chưa có BCTM; 2) có mối liên quan chặt chẽ giữa adiponectin với các chỉ số glucose, HbA1C, insulin và Triglycedid, cholesterol huyết thanh ở BN ĐTĐ typ 2 lần đầu có BCTM.

Xem chi tiết