XÁC ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TRONG CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO TẠI CỘNG ĐỒNG

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Thị Kim Chúc

việc lựa chọn phương pháp và phương tiện chuyển tải thông tin thích hợp đối với các nhóm đối tượng đích. Mục tiêu: (1) Mô tả khả năng tiếp cận các phương tiện/nguồn cung cấp thông tin truyền thông của người dân huyện Ba Vì. (2) Xác định phương pháp/phương tiện truyền thông phù hợp trong công tác truyền thông phòng chống bệnh lao. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại cơ sở thực địa dịch tễ học Ba Vì bằng phương pháp mô tả cắt ngang. Đối tượng nghiên cứu: là người trưởng thành được chọn ngẫu nhiên từ các hộ gia đình. Kết quả và kết luận: Tổng số người được phỏng vấn là 12143 người. Người dân có thể thu nhận thông tin về bệnh lao từ nhiều nguồn. Hai nguồn cung cấp thông tin chủ yếu là đài truyền hình (64,6%) và từ bạn bè/người thân (42,7%). Có sự khác biệt về phương tiện/nguồn cung cấp thông tin giữa nam và nữ giới. Người dân cũng đề nghị nên cung cấp thông tin qua nhiều phương tiện/cách; đài truyền hình và loa phát thanh được đề nghị nhiều nhất (70,4% và 55,1%).

Xem chi tiết

Nghiên cứu rối loạn đông máu trong lơxêmi cấp tiền tủy bào giai đoạn hóa trị liệu tấn công + ATRA

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 3

Tác giả: Trần Thị Kiều My, Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Anh Trí , Bạch Quốc Khánh

Rối loạn đông máu dẫn đến xuất huyết não là nguyên nhân tử vong hàng đầu của lơxêmi cấp tiền tủy bào. Mục tiêu: khảo sát tình trạng rối loạn đông máu ở các bệnh nhân lơxêmi cấp thể tiền tủy bào mới chẩn đoán và giai đoạn hóa trị liệu tấn công. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu trên 48 bệnh nhân lơxêmi cấp tiền tủy bào mới chẩn đoán và sau điều trị tấn công bằng phác đồ Daunorubicin + ATRA. Kết quả: 100% giảm số lượng tiểu cầu (trung bình 36,6G/l); 85,4% có đông máu nội mạch rải rác; 2,08% có tiêu sợi huyết, PT% trung bình là 58,9%; D - dimer trung bình 1297,4ng/ml. 88% đạt lui bệnh và hết các rối loạn đông máu trong đợt hóa trị liệu tấn công. Thời gian phục hồi các yếu tố đông máu huyết tương sau điều trị tấn công là 9,2 ngày, phục hồi tiểu cầu là 14 ngày. Kết luận: phần lớn các bệnh nhân lơxêmi cấp tiền tủy bào có rối loạn đông máu từ khi chẩn đoán. Điều trị tấn công bằng Daunorubicin và ATRA cho kết quả lui bệnh 88% và cải thiện nhanh các rối loạn đông máu.

Xem chi tiết

Sinh Lý Bệnh – Miễn Dịch – ĐH Y Tế Công Cộng

Chủ biên: GS. TS. Văn Đình Hoa

Nhà xuất bản: ĐH Y Tế Công Cộng, NXB Y Học

Giới thiệu

Với tinh thần góp phần kiến tạo cho người cán bộ y tế phương pháp làm việc khoa học, tư duy phân tích tổng hợp trên cơ sở hiểu biết các yếu tố chi phối sức khỏe con người, quy luật tác động của các yếu tố gây bệnh, quy luật phát sinh phát trìến của bệnh, giúp học viên tiếp thu tốt các môn học chuyên ngành, phục vụ thiêt thực công tác sau khi ra trường.

Xem chi tiết

Thực trạng sức khỏe công nhân công ty cổ phần dệt công nghiệp Hà Nội năm 2009

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trần Thị Hải Thanh, Nguyễn Thị Bích Liên, Nguyễn Thanh Thảo, Hoàng Minh Hiền, Nguyễn Thị Vinh

Mục tiêu: mô tả thực tình trạng sức khỏe công nhân Công ty cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội năm 2009. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 136 công nhân. Kết quả: phần lớn công nhân có sức khỏe loại II, III, IV. Loại II chiếm 39,7%, loại III chiếm 33,1%, loại IV chiếm 23,5% còn loại I chỉ có 3,7%. Đặc biệt không có công nhân nào có sức khỏe loại V. Các bệnh thường gặp của công nhân là: bệnh răng hàm mặt (56,6%), bệnh về mắt (36,8%) , bệnh tai mũi họng (22,9%), bệnh huyết áp thấp (16,2%), bệnh về hệ vận động (14,7%). Tỷ lệ công nhân được chẩn đoán ĐNN chiếm 7,35%. Tỷ lệ công nhân có hội chứng tức ngực khó thở ngày đầu tuần chiếm 16,2%. Kết luận: tăng cường công tác quản lý sức khoẻ công nhân bao gồm khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm các bệnh nghề nghiệp.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ lâm sàng rối loạn lo âu ở công nhân may của công ty Lê Trực và Minh Khai thành phố Hà Nội

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 2

Tác giả: Trần Viết Nghị, Nguyễn Viết Thiêm, Lã Thị Bưởi, Trần Như Minh Hằng

Nghiên cứu trên 720 công nhân may của công ty Lê Trực và Minh Khai thành phố Hà Nội, chúng tôi rút ra một số kết quả sau: - Tỷ lệ rối loạn lo âu ở công nhân may được nghiên cứu là 10.83% (rối loạn lo âu lan toả:94.87%), rối loạn ám ảnh sợ: 5.13%). - Các yếu tố stress nghề nghiệp có ảnh hưởng đến lo âu ở các đối tượng được nghiên cứu là: làm việc quá giờ(89.74%), môi trường làm việc không dễ chịu,ồn, nóng, bụi. Công việc không gây được hứng thú (74.35%), khối lượng công việc nhiều (71.80%), công việc ít có cơ hội thăng tiến. - Rối loạn lo âu ở các đối tượng nghiên cứu thường xuất hiện sau khi làm việc mệt nhọc, các triệu chứng hay gặp là: căng thẳng cơ bắp, bồn chồn, dễ bị kích thích, rối loạn giấc ngủ.

Xem chi tiết

Tình hình thiếu máu, thiếu năng lượng trường diễn ở nữ công nhân một số nhà máy công nghiệp

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Thanh Hương, Trần Chính Phương

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu, và một số yếu tố liên quan ở công nhân nữ, một số nhà máy công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2009. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1696 công nhân thuộc nhà máy may & giày, độ tuổi 18 - 45 tuổi, được đánh giá tình trạng dinh dưỡng: thiếu năng lượng trường diễn (CED, BMI < 18,5), thiếu máu (Hb < 120g/L), hỏi khẩu phần ăn và phân tích một số yếu tố liên quan giữa thiếu máu, CED, với khâu phần ăn. Kết quả: tỷ lệ công nhân bị CED là 37,7%, thuộc mức cao ve ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (YNSKCĐ), tỷ lệ thiếu máu là 21,9%, thuộc mức trung bình về YNSKCĐ, khẩu phần ăn thiếu năng lượng, protein động vật và sắt khẩu phần thấp là những yếu tố nguy cơ liên quan với CED và thiếu máu. Kết luận: Do tỷ lệ thiếu máu, CED ở mức cao về YNSKCĐ và liên quan với khẩu phần ăn thiếu về số lượng và chất lượng. Hoạt động truyền thông về dinh dưỡng, hỗ trợ khẩu phần ăn bổ sung giàu vi chất, uống viên sắt/folic có thể là những biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao sức khỏe cho công nhân tại các khu công nghiệp hiện nay.

Xem chi tiết

Một số tiến bộ mới trong điều trị bệnh ung thư

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Bá Đức

Điều trị ung thư ngày càng có nhiều tiến bộ nhờ thành tựu của các ngành khoa học cơ bản, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin cùng với các máy móc chính xác, tinh xảo. trong ngành ngoại khoa đang có xu hướng tăng tỷ lệ phẫu thuật bảo tồn, phẫu thuật nội soi, và phẫu thuật tạo hình nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. những tiến bộ về xạ trị đã giúp chúng ta có thể tiêu diệt chính xác khối u với liều mong muốn, giảm thiểu được tác dụng phụ đối với mô lành của cơ thể. các phương pháp điều trị vật lý khác như điều trị bằng nhiệt độ cao, quang hoá trị liệu ngoài cơ thể, quang động học liệu pháp cũng góp phần vào cuộc chiến chống ung thư. các phương pháp điều trị tế bào, điều trị đích là những tiến bộ vượt bậc nhằm phá vỡ những rào cản mà các phương pháp điều trị thông thường gặp phải. Cùng với những tiến bộ trên thế giới, điều trị ung thư ở việt nam đã từng bước phát triển với nhiều thành tựu đạt được là nâng cao tỷ lệ chữa khỏi bệnh, kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân ung thư.

Xem chi tiết