Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Nguyễn Thị Nga

Ra đề thi là một khâu rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập. Xây dựng được cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và tạo lập đề thi ngẫu nhiên sẽ đảm bảo tính khách quan trong quá trình ra đề thi, bao quát nội dung chương trình, nhanh chóng, thuận tiện cũng như đảm bảo tính bí mật của đề thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Mục tiêu: Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mẫu đề của các bộ môn, đơn vị, các quy chế thi cử và yêu cầu về đề thi nghiệm trên giấy để xây dựng cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và phần mềm tạo lập đề thi trắc nghiệm. Kết quả: Chương trình tạo đề thi ngẫu nhiên đã được áp dụng để ra đề thi tuyển sinh sau đại học môn Toán (Cao học, nghiên cứu sinh, Bác sĩ nội trú bệnh viện) từ năm học 2004 đến nay, đáp ứng tốt các yêu cầu đặt ra. Kết luận: Phần mềm này được thực hiện dễ dàng đảm bảo tính khách quan, khoa học trong quá trình ra đề và đã phần nào giải quyết được những khó khăn, vất vả trong khâu ra đề thi.

Xem chi tiết

Thực trạng kiến thức các chủ cửa hàng ăn về vệ sinh an toàn thực phẩm thức ăn đường phố tại thị trấn Xuân Mai - năm 2008

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Trần Thị Hương Giang, Đỗ Thị Hòa

Mục tiêu: mô tả thực trạng kiến thức vệ sinh an toàn TAĐP của chủ các cửa hàng ăn tại thị trấn Xuân Mai Hà Nội, năm 2008. Đối tượng nghiên cứu: là toàn bộ các chủ cửa hàng kinh doanh ăn uống tại thị xã Xuân Mai Chương Mỹ Hà Nội với mô hình nghiên cứu cắt ngang trong thời gian từ tháng 4 đến 10/2008. Kết quả và Kết luận: kiến thức về sự tồn tại của vi khuẩn; sử dụng phụ gia thực phẩm, dùng dụng cụ riêng biệt cho thực phẩm sống và chín, và tác dụng của bày bán thực phẩm trong tủ kính của các chủ cơ sở là tương đối tốt, đạt trên 80%. Kiến thức về nơi chế biến thực phẩm, tác dụng của bảo hộ lao động và nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm chưa đầy đủ. Tỷ lệ chủ các cơ sở có kiến thức chung về đảm bảo VSATTP đạt 59,2%.

Xem chi tiết

Đánh giá chất lượng thị giác của người khiếm thị

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền

Mục tiêu: đánh giá chất lượng thị giác của những người khiếm thị và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng thị giác của người khiếm thị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện trên 85 bệnh nhân khiếm thị từ 18 tuổi trở lên. Tất cả các bệnh nhân được khám lâm sàng để tìm nguyên nhân gây khiếm thị, đánh giá thị lực nhìn xa và thị lực nhìn gần, và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi để tìm hiểu chất lượng thị giác của bệnh nhân. Kết quả: điểm trung bình thị giác chung là 70,5 ± 14. Những yếu tố: thị lực xa, thị lực gần liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với điểm trung bình thị giác chung. Kết luận: chất lượng thị giác của bệnh nhân đạt ở mức trung bình. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng thị giác của bệnh nhân khiếm thị: thị lực nhìn xa, thị lực nhìn gần.

Xem chi tiết

Ứng dụng thị trường kế humphrey matrix phát hiện tổn thương thị trường trong bệnh glôcôm góc mở nguyên phát

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Đào Thị Lâm Hường, Lê Quang Kính

Đánh giá giá trị chẩn đoán tổn thương thị trường của thị trường kế H. Matrix so với máy thị trường kế SAP. Đối tượng: 48 mắt (27 bệnh nhân) glôcôm góc mở nguyên phát và nghi ngờ glôcôm điều trị tại khoa Glôcôm bệnh viện Mắt Trung ương từ 9/2009 đến 9/2010. Phương pháp: Mô tả, cắt ngang. Kết quả: Thời gian đo trung bình Humphrey Matrix là 311,7 ± 17,3, máy SAP là 351,5 ± 52,2 giây. Ngưỡng cảm thụ trung bình võng mạc của máy H. Matrix là 17,6 ± 10,7dB máy SAP là 20,8 ± 11,3 dB. Độ rộng trung bình tổn thươngcủa máy SAP là 17,4 ± 14,8 vị trí, máy H. Matrix là 14,8 ± 12,5 vị trí. Độ sâu trung bình tổn thương ở máy H. Matrix = 10,4 ± 8,0dB, máy SAP = 17,5 ± 12,9dB. Độ dao động ngưỡng cảm thụ trung bình giữa hai lần khám nghiệm của máy H. Matrix là 4,86 ± 0,41 dB, máy SAP là 5,26 ± 0,43dB. Kết luận: Tổn thương được phát hiện trên máy H. Matrix sâu hơn máy SAP, nhưng độ rộng tổn thương được phát hiện trên máy SAP lại lớn hơn H. Matrix. Độ dao động ngưỡng cảm thụ ở các vị trí võng mạc giữa các lần khám nghiệm ở máy H. Matrix ít hơn và đồng nhất hơn so với máy SAP.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng của bệnh tật đến sự tăng trưởng cân nặng và chiều cao của trẻ từ 0 đến 5 tuổi

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Thị Yến, Lê Nam Trà, Hàn Nguyệt Kim Chi

Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh tật với sự phát triển cân nặng và chiều cao trên 99 trẻ, 60 trẻ nông thôn và 39 trẻ thành phố từ 1/ 6/ 1998 đến 30/ 9 / 2003 theo phương pháp dọc chúng tôi rút ra một số nhận xét sau: 1. Trong năm đầu, tần suất và số ngày mắc bệnh trung bình trong năm caonhất. Từ năm thứ 2 trở đi, tần suất và thời gian mắc bệnh có xu hướng giảm dần. Tần suất và thời gian mắc bệnh ở nhóm NT cao hơn nhóm TP trong cả 5 năm. 2. Có mối tương quan tuyến tính nghịch giữa tần suất và thời gian mắc bệnh trung bình trong năm với cân nặng và chiều cao của trẻ, tuy nhiên mối tương quan này là chưa chặt chẽ. 3. Tần suất mắc bệnh và số ngày mắc bệnh trung bình trong năm có xu hướng giảm dần theo tuổi ở cả 2 nhóm SDD và không SDD. Tần suất mắc bệnh và số ngày mắc bệnh trung bình trong năm ở nhóm SDD cao hơn rõ rệt so với nhóm trẻ bình thường ở cả 5 năm.

Xem chi tiết

Hiệu quả của truyền tinh mạch methyl - prednisolon trong điều trị viêm thị thần kinh

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 5

Tác giả: Mai Quốc Tùng, Sreng Huong, Nguyễn Trọng Hung, Phạm Trọng Văn

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của truyền tĩnh mạch methyl-prednisolon trong điều trị viêm thị thần kinh tự phát (VTTKTP). Bệnh nhân viêm thị thần kinh tự phát được điều trị tại bệnh viện Lão khoa Trung ương từ 1/2012 đến 5/2013. Phương pháp: can thiệp lâm sàng không đối chứng, bệnh nhân được truyền tĩnh mạch methyl - prednisolon liều 1g/ngày x 3 ngày. Sau đó uống medrol 0,8mg/kg/ngày x 11 ngày rồi giảm liều và dừng hẳn sau 3 ngày. Kết quả: 33 bệnh nhân tham gia với tuổi trung bình là 41,3 ± 11,6 tuổi. 19 bệnh nhân bị 1 mắt, 14 bị hai mắt. Triệu chứng gồm giảm thị lực, đau hốc mắt (45,5%), rối loạn sắc giác (90%), giảm thị lực tương phản (80,0%), tổn thương phản xạ đồng tử hướng tâm (39,4%), Số hàng thị lực tăng trung bình là 2,7 hàng sau 2 tuần, 5,2 sau 3 tháng, và 6,1 sau 6 tháng. 58,3% mắt có thị lực bình thường sau 6 tháng. Tác dụng phụ gồm tăng cân (35,5%), kích ứng dạ dày (12,1%), rối loạn tâm thần nhẹ, mất ngủ (21,2%). Kết luận: Truyền methyl - prednisolon liều cao làm phục hồi thị lực nhanh, tác dụng phụ của thuốc nhẹ và tự hết sau khi dừng thuốc.

Xem chi tiết

TỶ LỆ HẠN CHẾ SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA NGƯỜI CAO TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 6

Tác giả: Phạm Ngân Giang, Trương Việt Dũng, Trần Chí Liêm, Lưu Ngọc Hoạt

Hạn chế các sinh hoạt thông thường hàng ngày là yếu tố ngăn trở để có cuộc sống có ích và khoẻ mạnh. Mục tiêu: tìm hiểu tỷ lệ và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày ở người cao tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang thực hiện ở bốn tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây, Huế và Cần Thơ, đối tượng là những người từ 60 tuổi trở lên. Kết quả: tỷ lệ bị hạn chế hoạt động sinh hoạt hàng ngày chung ở đối tượng người cao tuổi 4 tỉnh là 5,6%, trong đó 4,3% là phụ thuộc hoàn toàn và 1,3% là phụ thuộc một phần. Tỷ lệ này tăng theo lứa tuổi và xuất hiện nhiều ở nông thôn hơn là thành thị và miền núi, nhóm các cụ đang sống cùng vợ/chồng có tỷ lệ thấp hơn các cụ không còn hoặc không có vợ/chồng. Cần Thơ và Hà Tây là tỉnh có tỷ lệ người cao tuổi bị các loại hạn chế sinh hoạt hàng ngày nhiều hơn Huế và Thái Nguyên. Kết luận: các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê làm tăng tình trạng hạn chế sinh hoạt hàng ngày của người cao tuổi là: tuổi cao (OR = 1,08; 1,06 – 1,10), không có công việc hiện tại (OR = 0,11; 0,05 – 0,28), dân tộc thiểu số (OR = 2,25; 1,45 - 3,49), không tập thể dục (OR = 2,24; 1,75 – 3,85), bị tai biến mạch não (OR = 15,18; 9,47 – 24,35), bị sa sút trí tuệ (OR = 2,39; 1,62 – 3,54), bị giảm thị lực (OR = 1,32; 1,05 – 1,65).

Xem chi tiết

Đánh giá tình trạng thị giác hai mắt sau phẫu thuật lác cơ năng người lớn

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Chí Dũng , Trần Huy Đoàn

Sự cải thiện thị giác 2 mắt (TG2M) sau phẫu thuật lác người lớn đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới, nhưng ở nước ta chưa nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: đánh giá tình trạng TG2M và các yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi TG2M sau mổ lác cơ năng người lớn. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc, thực hiện tiến cứu tại bệnh viện Mắt Trung ương từ 10/2005 đến 7/2006. Kết quả: 16,1% bệnh nhân (BN) có thị lực sau mổ tăng từ 0,1 lên 0,4; có 46,2% có cải thiện TG2M sau mổ lác 6 tháng, trong đó BN có đồng thị tăng từ 9,2% lên 13,2%, có đồng thị + hợp thị tăng từ 16,9% lên 47,4%, có cả 3 mức độ TG2M tăng từ 0% lên 10,5%. Tình trạng tương ứng võng mạc bình thường tăng từ 23,0% lên 56,9%. Về các yếu tố ảnh hưởng tới phục hồi TG2M: 1. Tuổi xuất hiện lác: TG2M phục hồi ở 60% số BN bị lác sau 9 tuổi, phục hồi kém nhất (15,4%) ở BN lác xuất hiện sớm trước 6 tháng tuổi; 2. Sự ổn định độ lác: phục hồi TG2M 50,9% ở nhóm lác ổn định; 3.Kết quả chỉnh lệch trục nhãn cầu tốt: phục hồi TG2M ở 50,9%; 4. Lệch khúc xạ 2 mắt: cải thiện TG2M ở 62,9% nhóm không có lệch khúc xạ. Kết luận: thị lực của mắt mổ và TG2M có thể được cải thiện khá tốt sau mổ lác cơ năng người lớn.

Xem chi tiết