Ứng dụng thị trường kế humphrey matrix phát hiện tổn thương thị trường trong bệnh glôcôm góc mở nguyên phát

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Đào Thị Lâm Hường, Lê Quang Kính

Đánh giá giá trị chẩn đoán tổn thương thị trường của thị trường kế H. Matrix so với máy thị trường kế SAP. Đối tượng: 48 mắt (27 bệnh nhân) glôcôm góc mở nguyên phát và nghi ngờ glôcôm điều trị tại khoa Glôcôm bệnh viện Mắt Trung ương từ 9/2009 đến 9/2010. Phương pháp: Mô tả, cắt ngang. Kết quả: Thời gian đo trung bình Humphrey Matrix là 311,7 ± 17,3, máy SAP là 351,5 ± 52,2 giây. Ngưỡng cảm thụ trung bình võng mạc của máy H. Matrix là 17,6 ± 10,7dB máy SAP là 20,8 ± 11,3 dB. Độ rộng trung bình tổn thươngcủa máy SAP là 17,4 ± 14,8 vị trí, máy H. Matrix là 14,8 ± 12,5 vị trí. Độ sâu trung bình tổn thương ở máy H. Matrix = 10,4 ± 8,0dB, máy SAP = 17,5 ± 12,9dB. Độ dao động ngưỡng cảm thụ trung bình giữa hai lần khám nghiệm của máy H. Matrix là 4,86 ± 0,41 dB, máy SAP là 5,26 ± 0,43dB. Kết luận: Tổn thương được phát hiện trên máy H. Matrix sâu hơn máy SAP, nhưng độ rộng tổn thương được phát hiện trên máy SAP lại lớn hơn H. Matrix. Độ dao động ngưỡng cảm thụ ở các vị trí võng mạc giữa các lần khám nghiệm ở máy H. Matrix ít hơn và đồng nhất hơn so với máy SAP.

Xem chi tiết

Đánh giá chất lượng thị giác của người khiếm thị

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền

Mục tiêu: đánh giá chất lượng thị giác của những người khiếm thị và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng thị giác của người khiếm thị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện trên 85 bệnh nhân khiếm thị từ 18 tuổi trở lên. Tất cả các bệnh nhân được khám lâm sàng để tìm nguyên nhân gây khiếm thị, đánh giá thị lực nhìn xa và thị lực nhìn gần, và phỏng vấn bằng bộ câu hỏi để tìm hiểu chất lượng thị giác của bệnh nhân. Kết quả: điểm trung bình thị giác chung là 70,5 ± 14. Những yếu tố: thị lực xa, thị lực gần liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với điểm trung bình thị giác chung. Kết luận: chất lượng thị giác của bệnh nhân đạt ở mức trung bình. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng thị giác của bệnh nhân khiếm thị: thị lực nhìn xa, thị lực nhìn gần.

Xem chi tiết

Xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Hoàng Minh Hằng, Trần Thúy Nga

Nghiên cứu nhằm xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính. Kết quả cho thấy chương trình Thi trắc nghiệm đã được áp dụng để tổ chức thực hiện việc thi hết môn Tin học cho tất cả các đối tượng: Sinh viên Y1, Cao học, CKI, CKII, CNĐDTC,… từ năm học 2009 -2010 đến nay. Chương trình đã đáp ứng được các tiêu chí: câu hỏi bao phủ chương trình, điểm thi phân loại được sinh viên. Chương trình thi trắc nghiệm trên máy tính ra đời đã giải quyết được phần lớn những khó khăn, vất vả trong việc thi cử. Ngoài ra, chương trình cũng đảm bảo tính công bằng, khách quan và giảm bớt tiêu cực trong thi cử.

Xem chi tiết

Đánh giá áp lực dương tính cuối thì thở ra

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Dụ

Kết quả đo PEEP nội sinh ở 27 bệnh nhân thở máy bằng phương pháp bịt đường thở ra của máy thở ở cuối thì thở ra cho thấy: - 4 bệnh nhân suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) có mức PEEP nội sinh là 10,25 ± 2,05 cmH2O - 6 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) có PEEP nội sinh là 12,83 ± 4,98 cmH2O - 7 bệnh nhân hen phế quản nặng có PEEP nội sinh là 20,29 ± 7,21 cmH2O - 10 bệnh nhân bị bệnh thần kinh cơ có PEEP nội sinh là 5,2 ± 4,07 cmH2O Để điều trị PEEP nội sinh ở các bệnh nhân ARDS, COPD và hen phế quản nặng, chúng tôi dùng PEEP ngoài ở mức bằng 1/2 auto-PEEP. Kết quả cho thấy mức PEEP nội sinh sau điều trị đã giảm xuống còn 7 ± 2,31 ở bệnh nhân ARDS; 7 ± 2,31 ở bệnh nhân COPD và 9,71 ± 1,67 cmH2O ở bệnh nhân hen phế quản nặng. Đặt mức PEEP ngoài bằng 50% PEEP nội sinh đảm bảo an toàn và không làm xấu thêm tình trạng căng phổi quá mức ở các bệnh nhân nghiên cứu.

Xem chi tiết

Sự xuất hiện của Myofibroblastes trên mảnh sinh thiết thận ghép

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Hương

Một trong các nguyên nhân gây mất chức năng quả thận ghép là xơ thận. Myofibroblastes (aSMA) có vai trò hoạt hoá các tế bào xơ. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự xuất hiện của aSMA trên 56 tiêu bản của 15 bệnh nhân ghép thận ở bệnh viện Rangueil, Pháp từ 1/1/2006 đến 31/12/2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi chức năng bị tổn thương thì sự xuất hiện của aSMA cao hơn hẳn nhóm tháo cặp clamp trong phòng mổ (p < 0,01). Tỷ lệ xuất hiện aSMA cao nhất ở nhóm nguyên nhân khác. Sự xuất hiện của aSMA giảm ở bệnh nhân thì 5 năm sau bệnh nhân bị chạy thận nhân tạo. Tóm lại, khi thận ghép bắt đầu bị tổn thương thì xuất hiện aSMA và aSMA tăng lên cao khi chức năng thận thay đổi và khi aSMA giảm thì tiên lượng xấu cho quả thận ghép.

Xem chi tiết

Đánh giá tình trạng thị giác hai mắt sau phẫu thuật lác cơ năng người lớn

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Chí Dũng , Trần Huy Đoàn

Sự cải thiện thị giác 2 mắt (TG2M) sau phẫu thuật lác người lớn đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới, nhưng ở nước ta chưa nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: đánh giá tình trạng TG2M và các yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi TG2M sau mổ lác cơ năng người lớn. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc, thực hiện tiến cứu tại bệnh viện Mắt Trung ương từ 10/2005 đến 7/2006. Kết quả: 16,1% bệnh nhân (BN) có thị lực sau mổ tăng từ 0,1 lên 0,4; có 46,2% có cải thiện TG2M sau mổ lác 6 tháng, trong đó BN có đồng thị tăng từ 9,2% lên 13,2%, có đồng thị + hợp thị tăng từ 16,9% lên 47,4%, có cả 3 mức độ TG2M tăng từ 0% lên 10,5%. Tình trạng tương ứng võng mạc bình thường tăng từ 23,0% lên 56,9%. Về các yếu tố ảnh hưởng tới phục hồi TG2M: 1. Tuổi xuất hiện lác: TG2M phục hồi ở 60% số BN bị lác sau 9 tuổi, phục hồi kém nhất (15,4%) ở BN lác xuất hiện sớm trước 6 tháng tuổi; 2. Sự ổn định độ lác: phục hồi TG2M 50,9% ở nhóm lác ổn định; 3.Kết quả chỉnh lệch trục nhãn cầu tốt: phục hồi TG2M ở 50,9%; 4. Lệch khúc xạ 2 mắt: cải thiện TG2M ở 62,9% nhóm không có lệch khúc xạ. Kết luận: thị lực của mắt mổ và TG2M có thể được cải thiện khá tốt sau mổ lác cơ năng người lớn.

Xem chi tiết

Những phương phá tiếp cận hiện đại Gen trị liệu Ung thư

Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Văn Kình

Nhà xuất bản: NXB Y Học

Năm xuất bản: 2011

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Sự ra đời của gen trị liệu rõ ràng là một công cụ của Y học thế kỷ 21, nó thực thi được những công việc mà những phương pháp truyền thống khác không thể thực hiện được. Điều đáng chú ý là gen trị liệu ung thư chiếm tới 70% các quy trình gen trị liệu. Tại Hoa Kỳ, một tổ hợp gồm nhiều cơ sở gen trị liệu ung thư trải khắp đất nước đã được thiết lập để thực hiện thử nghiệm lâm sàng các bệnh ung thư. Còn tại Trung Quốc đất nước có số dân đông nhất thế giới cũng là nước đi đầu trong lĩnh vực gen trị liệu, hàng nghìn bệnh nhân ung thư đã được điều trị bằng phương pháp này. Các nước châu Âu như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Cộng hòa liên bang Đức và ở châu Á, ngoài Trung Quốc, thì các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản cũng có những bước tiến nhảy vọt. Với Việt Nam, gen trị liệu tuy còn rất non trẻ nhưng đã có những thành tích rất đáng khích lệ trong điều trị các bệnh tim mạch, ung thư máu bằng công nghệ tế bào gốc.

Xem chi tiết

TỶ LỆ HIỆN MẮC KHUYẾT TẬT TẠI CHÍ LINH NĂM 2007

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thủy, Đặng Sỹ Duy, Hoàng Văn Huỳnh, Quách Ngọc Quyên, Micheal Palmer

Điều tra tỷ lệ khuyết tật đang ngày càng được quan tâm và đã có nhiều đóng góp cho việc cải thiện tình hình cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật. Mục tiêu: mô tả tỷ lệ khuyết tật tại các điểm dân cư trong Hệ thống theo dõi Dân số và Dịch tễ học huyện Chí Linh (CHILILAB), tỉnh Hải Dương năm 2007. Phương pháp nghiên cứu: Điều tra cắt ngang ba thị trấn và bốn xã của CHILILAB với dân số là 65.438 người, sử dụng bộ câu hỏi phát hiện người khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới. Kết quả và kết luận: tỷ lệ khuyết tật tại Chí Linh là 28,2% dân số trong đó có sự khác biệt rõ ràng giữa vùng thị trấn (29,7%) và nông thôn (26,4%). Tỷ lệ khuyết tật tăng lên theo tuổi: người ≤ 60 tuổi có tỷ lệ khuyết tật là 81,8%; 40 - 59 tuổi là 58,2%; <40 tuổi là 8 - 9%. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ khuyết tật cao ở vùng nông thôn, ở nữ giới, ở hộ nghèo, ở người mù chữ hoặc chỉ biết đọc biết viết.

Xem chi tiết