Vai trò của siêu âm và chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân, Phạm Thu Hà, Đặng Bích Ngọc

Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá vai trò của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu về đặc điểm lâm sàng, siêu âm, kết quả chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học (đối với trường hợp kết quả tế bào học ác tính) của 150 bệnh nhân đến khám ở Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 24/11/2011 đến ngày 29/02/2012. Kết quả cho thấy có 150 bệnh nhân tuổi trung bình là 47,6 ± 12,061, nam/nữ = 6/1, lí do đến khám không có triệu chứng chiếm tỉ lệ nhiều nhất 51,3%. Có 11 bệnh nhân kết quả tế bào học và mô bệnh học là ung thư tuyến giáp. Kết quả siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp: Nhân giảm âm 80% lành tính, 10% ác tính, ranh giới nhân không rõ 78% lành tính, 12% ác tính, vi vôi hóa trong nhân 44% lành tính, 50% ác tính, phối hợp các đặc điểm trên siêu âm và kết quả giải phẫu bệnh, có 1 dấu hiệu nhân giảm âm 10% ác tính, có 2 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ 25% là ác tính, có 3 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, vi vôi hóa 100% ác tính. Các dấu hiệu trên siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp là nhân giảm âm, ranh giới không rõ và vì vôi hóa trong nhân.

Xem chi tiết

Đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Vương Tuyết Mai, Phạm Thanh Tuyền, Đỗ Gia Tuyển

Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú. Nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa vào bộ câu hỏi đánh giá kiến thức phòng tránh nhiễm trùng của bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú được thực hiện ở các bệnh nhân đang được điều trị bằng phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại khoa Thận - Tiết niệu, Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 03/2014 đến tháng 09/2014. Nghiên cứu bao gồm 188 bệnh nhân, nam chiếm tỉ lệ 56,4% (n = 106) và nữ chiếm tỉ lệ 43,6% (n = 82). Tuổi trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 45,4±13,3 (18-87 tuổi). Hầu hết bệnh nhân sống ở nông thôn, chiếm tỉ lệ 77,7% (n = 146), bệnh nhân sống ở thành thị chiếm tỉ lệ 22,3% (n = 42). Trình độ học vấn dưới cấp 3 chiếm tỉ lệ cao nhất là 47,3% (n = 89), trình độ học vấn cấp 3 chiếm 28,2% (n = 53) và trình độ học vấn trên cấp 3 chiếm 24,5% (n = 46). Số bệnh nhân thuộc diện nghèo là 107 bệnh nhân (57%) cao hơn so với số bệnh nhân thuộc diện đủ sống (81 bệnh nhân chiếm 43%). Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng điểm trung bình bệnh nhân đạt được là 16,2 ± 3,7, điểm trung vị là 16/35 điểm, điểm thấp nhất là 5 điểm, điểm cao nhất là 27 điểm. Nhóm bệnh nhân đạt điểm kiến thức cao chiểm tỉ lệ thấp 6,4% (n = 12), nhóm bệnh nhân có điểm kiến thức trung bình chiếm 30,9% (n = 58), nhóm bệnh nhân đạt điểm kiến thức thấp chiếm tỉ lệ khá cao 62,7% (n = 118).

Xem chi tiết

Ung Thư Biết Sớm Trị Lành

Chủ biên: GS. BS. Nguyễn Chấn Hùng

Nhà xuất bản: NXB Tổng Hợp TPHCM

Năm xuất bản: 2013

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Lời tác giả

Hiểu biết nhiều về ung thư đã đưa tới sự tiến bộ vượt bực về phòng tránh; phát hiện sớm và điều trị bệnh ung thư. Các nhà khoa học đã hiểu về bệnh ung thư trong ba thập niên hơn là những gì học được trong bao nhiêu thế kỷ trước. Tất cả hiểu biết khoa học đều dựa trên kiến thức tích lũy do tiền nhân chúng ta, và còn nhiều điều phải học hỏi nữa.

Từ nơi sâu thẳm

Xem chi tiết

Nhận xét về hội chứng cận ung thư ở bệnh nhân ung thư phổi từ 2003 - 2005 tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trần Hoàng Thành, Vũ Nguyệt Minh

Hội chứng cận ung thư là một hội chứng (H/C) khá hiếm gặp trong các bệnh nhân ung thư phổi. Ở Việt nam, cho đến nay chỉ lác đác có một vài nghiên cứu về hội chứng này. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các hội chứng cận u thường gặp ở bệnh nhân ung thư phổi và nhận xét về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các hội chứng cận ung thư này. Đối tượng nghiên cứu: 570 bệnh nhân (BN) được chẩn đoán xác định K phổi từ 2003 đến 2005. Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả. Kết quả: Hội chứng cận u gặp ở 19,47% số bệnh nhân (BN) ung thư phổi với các tần suất lần lượt như sau: Hội chứng Pierre Marie gặp nhiều nhất 65,8%. Hội chứng cận u trên bệnh nhân ung thư phổi 64,8% ở nhóm tuổi 50 - 69, 88,3% là nam giới, 83,8% ở bệnh nhân hút thuốc, 66,6% ở giai đoạn nặng, 30,7% ở ung thư biểu mô tuyến. Nếu xét riêng từng hội chứng chúng tôi gặp 12,8% bệnh nhân ung thư phổi có hội chứng Pierre Marie, 5,3% bệnh nhân có hội chứng Schwartz-Bartter trong số các bệnh nhân được xét nghiệm natri máu và các hội chứng cận ung thư khác hiếm gặp hơn. Từ khóa: Hội chứng cận u, ung thư phổi

Xem chi tiết

Đột biến T790M thứ phát gây kháng thuốc ức chế hoạt tính EGFR tyrosine kinase ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ tại Việt Nam

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Lê Hoàn, Nguyễn Minh Hà, Trần Vân Khánh, Vương Ngọc Dương, Ngô Quý Châu, Mai Trọng Khoa, Tạ Thành Văn, Trần Huy Thịnh

Tình trạng kháng thứ phát với thuốc ức chế hoạt tính tyrosine kinase (TKI, tyrosine kinase inhibitor) của EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor) ở bệnh ung thư phổi khiến bệnh tiến triển trở lại. Tình trạng này xảy ra sau khoảng 10 - 20 tháng điều trị ở hầu hết các bệnh nhân có đáp ứng tốt ban đầu với TKI. Nguyên nhân được xác định là do những biến đổi gen, trong đó sự xuất hiện của đột biến mới T790M trên gen EGFR chiếm 50% các trường hợp. Chúng tôi báo cáo một trường hợp lâm sàng điển hình của hiện tượng kháng TKI: bệnh nhân ung thư phổi thể biểu mô tuyến giai đoạn muộn di căn phổi đối bên và di căn xương, có đột biến LREA exon 19 gen EGFR gây tăng đáp ứng với erlotinib; sau 15 tháng điều trị bằng erlotinib, bệnh tiến triển, chẩn đoán phân tử trên mảnh mô sinh thiết lại từ khối u đã phát hiện đột biến mới T790M exon 20 gen EGFR gây kháng TKI. Nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của chẩn đoán phân tử cho tình trạng kháng TKI thông qua tái sinh thiết khối u khi bệnh tiến triển trở lại.

Xem chi tiết

Kết quả hoạt động truyền thông phòng chống ung thư thuộc dự án phòng chống ung thư quốc gia, giai đoạn 2008 - 2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Số 2

Tác giả: Bùi Diệu, Nguyễn Hoài Nga, Ngô Văn Toàn, Nguyễn Ngọc Hùng, Vũ Thị Vựng, Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Hoàng Yến, Trần Thị Hảo, Bùi Văn Nhơn

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả hoạt động truyền thông phòng chống ung thư thuộc chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống ung thư giai đoạn 2008 - 2010. Kết quả cho thấy 16 khoa ung bướu được thành lập và xây dựng được mạng lưới PCUT ở Việt Nam. Dự án biên soạn được nhiều tài liệu truyền thông, với các hình thức truyền thông đa dạng: tờ rơi (15 loại tờ rơi với mỗi loại 10000 - 20000 tờ/năm, truyền hình trung ương và địa phương. Dự án đào tạo, tập huấn nhiều lượt CBYT về truyền thông PCUT và tổ chức thành công 2 hội thảo quốc gia PCUT 10/2008 và 10/2010. Mạng lưới PCUT được thành lập từ tỉnh đến huyện và xã, tuy nhiên vẫn gặp rất nhiều khó khăn về nhân lực, kinh phí trong quá trình triển khai. Từ đó có thể kết luận, tại 6 tỉnh đã xây dựng được mạng lưới PCUT từ trung ương đến tỉnh/huyện/xã. Tuy nhiên vẫn chưa có chiến lược cụ thể, thiếu về nhân lực và kinh phí.

Xem chi tiết

Nhận xét tỷ lệ dấu ấn Vi rút viêm gan ở bệnh nhân ung thư bỉểu mô tế bào gan và một số ung thư khác ngoài gan

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Khánh Trạch

Vai trò nhiễm vi rút viêm gan (VRVG) ở ung thư biểu mô tế bào gan (UTBMTBG) đã biết nhiều, nhưng liệu có vai trò của chúng ở ung thư ngoài gan không? Đề tài được tiến hành với: Mục tiêu: Xác định tỷ lệ HBsAg(+) và antiHCV(+) ở nhóm UTBMTBG và ung thư ngoài gan. Đối tượng: các bệnh nhân (BN) UTBMTBG và UT ngoài gan (dạ dày, đại trực tràng và phổi) điều trị tại Bệnh viện. Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức Hà Nội từ 01-2002 đến 04-2003. Kết quả: Ở 124 BN UTBMTBG, có 95/ 124 BN (76,6%) mang HBsAg(+), 2/ 61 BN(3,28%) có antiHCV(+); tỷ lệ phối hợp HBsAg(+) và antiHCV(+) là 1,64%(1/ 61); tỷ lệ antiHCV(+) thấp hơn so với HBsAg(+), với p < 0,0001. Nghiên cứu được 284 BN UT ngoài gan, có 33/ 284 BN(11,62%) mang HBsAg(+), và không có BN nào có antiHCV(+) trong số 179 BN làm xét nghiệm antiHCV. Tỷ lệ HBsAg(+) ở nhóm UTBMTBG là 76,6% cao hơn so với nhóm UT ngoài gan là 11,62% (p < 0,0001), OR = 24,92 (13.87 < OR < 45.10). Kết luận: có mối liên quan chặt chẽ giữa nhiễm HBV với UTBMTBG. Vai trò của nhiễm HCV đối với UTBMTBG chưa rõ rệt như vai trò của nhiễm HBV.

Xem chi tiết

Kết quả phẫu thuật tắc ruột do ung thư đại tràng tại bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Hiếu Học, Trần Quế Sơn

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng như kết quả phẫu thuật tắc ruột do ung thư đại tràng. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả hồi cứu 63 trường hợp tắc ruột do ung thư đại tràng được mổ cấp cứu tại Bệnh viện Bạch Mai từ 1/2011 đến 12/2013. Tuổi trung bình 57 tuổi, nữ gặp nhiều hơn nam, ung thư đại tràng trái cao gấp 1,25 ung thư đại tràng phải. Vị trí khối u hay gây tắc ở đại tràng phải là đại tràng góc gan (14,3%), đại tràng lên (14,3%), ở đại tràng trái là đại tràng Sigma (22,1%), đại tràng góc lách (15,8%). U thâm nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất (50,8%). Mổ một thì ở 29/63 bệnh nhân (46%) chủ yếu ở bệnh nhân u đại tràng phải 21/28 (75%), u đại tràng trái 8/35 (22,9%) bệnh nhân. Mổ 2 thì chủ yếu với u đại tràng trái 25/63 bệnh nhân, tỷ lệ cắt u, làm hậu môn nhân tạo là 21/25 (84%) bệnh nhân. Không có biến chứng xì miệng nối cũng như phải mổ lại. Tỷ lệ tử vong 2/63 bệnh nhân (3,2%) do suy kiệt, giai đoạn muộn đã di căn xa. Trong mổ cấp cứu tắc ruột do u đại tràng, có thể phẫu thuật một thì với u đại tràng phải, nên phẫu thuật hai thì đối với u đại tràng trái, bệnh nhân có nhiều nguy cơ, nên làm phẫu thuật Hartmann.

Xem chi tiết