Dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 0-36 tháng tuổi tại các huyện đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Trần Thị Tuyết Mai, Lê Thị Hợp, Vũ Hoàng Lan

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 3 - 7 năm 2011, trên 810 bà mẹ và trẻ em từ 0 - 36 tháng tuổi tại 3 xã thuộc 3 huyện thị đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa nhằm xác định yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng (SDD). Kết quả cho thấy liên quan với cả 3 thể SDD nhẹ cân, thấp còi, gày còm là thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ (NDTN) của bà mẹ, cân nặng sơ sinh thấp; liên quan với hai thể nhẹ cân và thấp còi là trẻ ăn bổ sung sớm; liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi: Kiến thức NDTN kém, chi tiêu cho ăn uống thấp, có trên 2 con, trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo.

Xem chi tiết

Hiệu quả dẫn lưu não thất ra ngoài trong vòng 12 giờ sau triệu chứng khởi phát chảy máu não thất có giãn não thất cấp

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lương Quốc Chính, Mai Duy Tôn, Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Văn Liệu

Nghiên cứu được thực hiện trên 42 bệnh nhân giãn não thất cấp do chảy máu não thất tại khoa Cấp cứu - bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2011 đến 8/2014 nhằm đánh giá hiệu quả dẫn lưu não thất ra ngoài trước 12 giờ sau triệu chứng khởi phát. Bệnh nhân được chia 2 nhóm: dẫn lưu não thất trước (nhóm 1, n = 26) và sau (nhóm 2, n = 16) 12 giờ sau triệu chứng khởi phát. Kết quả tốt (khi GCS > 12 điểm và mRS ≥ 3) ở nhóm 1 (61,5% và 42,3%) cao hơn nhóm 2 (31,2% và 0%), với p < 0,05. Không thấy sự khác biệt về các biến chứng sau dẫn lưu não thất bao gồm tắc dẫn lưu não thất (7,7% so với 18,8%, p > 0,05), chảy máu não xung quanh dẫn lưu (7,7% so với 18,8%, p > 0,05) và viêm não thất (3,8% so với 12,5%, p > 0,05), và tỷ lệ tử vong (3,8% so với 12,5%, p > 0,05) giữa hai nhóm. Kết quả này cho thấy dẫn lưu não thất ra ngoài trước 12 giờ sau triệu chứng khởi phát không làm thay đổi tỷ lệ các biến chứng và tử vong, nhưng có liên quan tới cải thiện kết quả ngắn hạn (GCS và mRS cải thiện).

Xem chi tiết

Gía trị của sinh thiết mÀng phổi bằng kim Castelain trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi ít tại Trung tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Ngô Quý Châu , Nguyễn Thị Thanh Hà

Sinh thiết màng phổi (STMP) bằng kim Castelain có nhiều ưu điểm trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi (TDMP) nhưng khó thực hiện nếu tràn dịch ít. Nghiên cứu tiến hành nhằm nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả STMP kín bằng kim Castelain trên bệnh nhân TDMP dịch ít. Kết quả cho thấy triệu chứng hay gặp: đau ngực 84,6%; ho 78,1%; khó thở 65,6%; sốt 43,8%; hội chứng ba giảm 78,1%. Tỷ lệ lấy được bệnh phẩm thành công 100% sau khi đã bơm thêm NaCl 0,9% vào khoang MP. Xác định được nguyên nhân TDMP nhờ STMP bằng kim Castelain là 34,4%. Tỷ lệ tai biến nhẹ do sinh thiết là 15,6%. Từ các kết quả trên có thể kết luận đối với TDMP số lượng ít, STMP bằng kim Castelain có thể thực hiện được nếu bơm thêm NaCl 0,9%. Kỹ thuật và có giá trị chẩn đoán cao và an toàn ngay cả khi TDMP số lượng ít.

Xem chi tiết

Vai trò của siêu âm và chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân, Phạm Thu Hà, Đặng Bích Ngọc

Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá vai trò của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu về đặc điểm lâm sàng, siêu âm, kết quả chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học (đối với trường hợp kết quả tế bào học ác tính) của 150 bệnh nhân đến khám ở Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 24/11/2011 đến ngày 29/02/2012. Kết quả cho thấy có 150 bệnh nhân tuổi trung bình là 47,6 ± 12,061, nam/nữ = 6/1, lí do đến khám không có triệu chứng chiếm tỉ lệ nhiều nhất 51,3%. Có 11 bệnh nhân kết quả tế bào học và mô bệnh học là ung thư tuyến giáp. Kết quả siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp: Nhân giảm âm 80% lành tính, 10% ác tính, ranh giới nhân không rõ 78% lành tính, 12% ác tính, vi vôi hóa trong nhân 44% lành tính, 50% ác tính, phối hợp các đặc điểm trên siêu âm và kết quả giải phẫu bệnh, có 1 dấu hiệu nhân giảm âm 10% ác tính, có 2 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ 25% là ác tính, có 3 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, vi vôi hóa 100% ác tính. Các dấu hiệu trên siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp là nhân giảm âm, ranh giới không rõ và vì vôi hóa trong nhân.

Xem chi tiết

Nghiên cứu kháng nguyên nhóm máu ngoài hệ abo của cán bộ viện huyết học truyền máu trung ương

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Anh Trí, Bùi Thị Mai An

Xây dựng panel hồng cầu và ngân hàng người hiến máu (NHM) có nhóm máu hiếm, tại Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương (VHHTMTU) là rất cần thiết. Mục tiêu: nghiên cứu tần số xuất hiện kháng nguyên của các hệ nhóm máu Rh, Kell, Kidd, Duffy, MNSs, Lewwis, P, Mia và Lutheran ở cán bộ viện Huyết học - Truyền máu Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: xác định kháng nguyên của các hệ nhóm máu Rh, Kell, Kidd, Duffy, MNSs, Lewwis, P, Mia và Lutheran bằng kỹ thuật gelcard và ống nghiệm cho 140 cán bộ khỏe mạnh đang làm việc tại viện HHTMTW. Kết quả và kết luận: tần suất xuất hiện các kháng nguyên nhóm máu hệ Rh (D: 99,3%; e: 97,9%; C: 95,7%; c: 41,3% và E là 41,4%;); Kell (100% và K :O %;); Kidd (Jka : 77,1% và Jkb : 73,6%); Duffy Fya : 97,9%, Fyb : 10,7%) ; MNSs (S: 3,6% ; s : 100%, M : 82,1% ; N : 67,1%); Lewis (lea: 30%, Leb: 87%), P1(18,6%); Mia (10%), Lutheran Lua: 0% và Lub: 100%) của cán bộ viện HHTM TU. Nghiên cứu đã góp phần xây dựng panel hồng cầu và ngân hàng NHM có nhóm máu hiếm.

Xem chi tiết

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA năm 2011 và các yếu tố nguy cơ

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân, Thái Thị Thanh Thúy

lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA 2011 và các yếu tố nguy cơ. Nghiên cứu sàng lọc 515 thai phụ làm nghiệm pháp dung nạp glucose và theo dõi 295 thai phụ đến kết thúc thai kỳ tại khoa Phụ Sản bệnh viện Bạch Mai, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2011 đến tháng 8/2012 nhằm xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA 2011. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ chẩn đoán theo tiêu chuẩn ADA 2011 là 39% cao hơn so với chẩn đoán theo tiêu chuẩn ADA 2010 (11,7%). Trong đó có 98,5% thai phụ chỉ cần thực hiện chế độ ăn và luyện tập đã đạt mục tiêu kiểm soát glucose máu.Tỷ lệ thai phụ có yếu tố nguy cơ là 19,2%. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ tăng theo số lượng yếu tố nguy cơ, các thai phụ có trên 3 yếu tố nguy cơ thì 100% mắc đái tháo đường thai kỳ. Khi phân tích hồi quy logistic về mối tương quan theo tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ của ADA 2011 và các yếu tố nguy cơ thì tiền sử gia đình bị đái tháo đường, thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ độc lập. Kiểm soát glucose máu không tác động đến tỷ lệ mổ lấy thai: nhóm không đái tháo đường thai kỳ (58,6%), nhóm đái tháo đường thai kỳ đạt mục tiêu (58,2%), nhóm đái tháo đường thai kỳ không theo dõi (70%), không có sự khác biệt, p > 0,05. Kiểm soát glucose máu tốt làm giảm các nguy cơ tai biến sản khoa: tỷ lệ đẻ non (0%), thai chết lưu (0%); tai biến sơ sinh: tỷ lệ thai to (3,3%), tỷ lệ thai nhẹ cân (1,1%), tỷ lệ ngạt sơ sinh (0%).

Xem chi tiết