Vai trò của Troponin T siêu nhạy trong dự báo kết quả sớm sau sửa toàn bộ tứ chứng fallot

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Mai Hùng, Nguyễn Quang Tuấn, Nguyễn Hữu Tú

Phát hiện sớm tổn thương cơ tim trong phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể là thách thức đối với bác sĩ gây mê hồi sức. Troponin T siêu nhạy (hs - TnT) là dấu ấn sinh học phát hiện sớm tổn thương cơ tim. Nghiên cứu thực hiện trên 31 trẻ em được sửa toàn bộ tứ chứng Fallot, nhằm khảo sát sự biến đổi sớm nồng độ hs - TnT và đánh giá tương quan giữa nồng độ hs - TnT với kết quả sớm sau mổ. Kết quả nồng độ trung bình hs- TnT trước mổ (T0) là 14,5 ng/L, thời điểm T1 sau mổ là 4544,6 ng/L tăng cao so với trước mổ (p < 0,01). Nồng độ trung bình hs - TnT ngay sau mổ tương quan với thời gian thở máy, thời gian nằm điều trị hồi sức, hs - TnT tăng mỗi 100 ng/L thì thời gian thở máy tăng 0,02 giờ và thời gian nằm điều trị tại hồi sức tăng 0,01 ngày. Nồng độ hs - TnT sau phẫu thuật là một chỉ điểm sớm mức độ tổn thương cơ tim và có giá trị tiên lượng kết quả sớm sau phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot.

Xem chi tiết

Nồng độ Cystatin C máu và chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Thị Lý, Trần Thị Chi Mai

Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự thay đổi nồng độ cystatin C huyết thanh trong phát hiện tổn thương thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2. 90 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được chia làm 3 nhóm: albumin niệu âm tính, abumin niệu vi lượng và albumin niệu lượng lớn. Kết quả nghiên cứu cho thấy: nồng độ cystatin C tăng có ý nghĩa từ nhóm abbumin niệu bình thường (0,81 ± 0,40 mg/L) đến nhóm albumin niệu vi lượng (1,59 ± 0,66 mg/L) tiếp đến là albumin niệu lượng lớn (8,62 ± 5,58 mg/L) (với p < 0,001). Nồng độ cystatin C không phụ thuộc vào giới, tuổi và BMI. Cystatin C nhạy hơn, thay đổi sớm hơn creatinin trong sàng lọc và theo dõi chức năng thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Nồng độ cystatin C tăng có ý nghĩa từ nhóm bệnh thận mạn do đái tháo đường giai đoạn 1 đến giai đoạn 2, giai đoạn 3 (tất cả các p < 0,001); trong khi nồng độ creatinin chỉ khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm albumin niệu vi lượng và albumin niệu lượng lớn, giữa bệnh thận mạn giai đoạn 2 và 3. Giá trị chẩn đoán chính xác bệnh thận mạn giai đoạn 1 và 2 của cystatin C tốt hơn của creatinin. Từ đó ta có kết luận: các kết quả này gợi ý cystatin C huyết thanh có thể là một chỉ tố để phát hiện sớm suy giảm mức lọc cầu thận ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Xem chi tiết

Hcv - rna và kiểu gen virus viêm gan c (hcv) ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (tnt) tại Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Vũ Thị Tường Vân

Xác định tỷ lệ HCV - RNA ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (TNT) có anti - HCV (+) và mô tả kiểu gen của virus viêm gan C ở bệnh nhân chạy TNT có HCV - RNA (+). Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành trên 70 bệnh nhân chạy thận nhân tạo có anti - HCV (+) tại bệnh viện Bạch Mai trong thời gian 2 năm (2006 – 2008). Phương pháp nghiên cứu điều tra ngang, HCV - RNA được xác định bằng kỹ thuật Real - time RT - PCR với bộ sinh phẩm COBAS® AmpliPrep/ COBAS® TaqMan® HCV Test. (Roche). Kiểu gen HCV được xác định bằng kỹ thuật Real – time RT - PCR. Kết quả và kết luận: Trong số 70 bệnh nhân chạy TNT có anti - HCV (+), 64 trường hợp có HCV - RNA chiếm 91,43% cho thấy mối nguy cơ lớn lây nhiễm chéo cho những bệnh nhân ở cùng một trung tâm lọc máu. 36 trường hợp (56,25%) có tải lượng virus (viral load - ước lượng số virus có trong máu) > 106 copies/ml. Kiểu gen 6 (50%) chiếm tỷ lệ cao nhất, kiểu gen 1 (43,75%), có 4 trường hợp nhiễm phối hợp hai kiểu gen: một trường hợp nhiễm phối hợp 1 và 2 (1,56%) và 3 trường hợp nhiễm phối hợp 6 và 2 (4,69%).

Xem chi tiết

Bước đầu đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp Virus viêm gan B và virus viêm gan C trên bệnh nhân HIV (+) tại bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Vũ Tường Vân, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Điệp và Lê Khánh Trâm

Để đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp giữa vius viêm gan B, vius viêm gan C và HIV cũng như ảnh hưởng của đường lây truyền đối với những nhiễm trùng phối hợp này chúng tôi đã tiến hành kiểm tra HBsAg và antiHCV trên 427 trường hợp HIV (+) được phát hiện tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2002 kết quả cho thấy: 1. Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu có anti HCV (+) là 81,03%.Tỷ lệ HBsAg (%) ở bệnh nhân HIV (+) là 18,26%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm 2 loại virus viêm gan B & C ở nhóm đối tượng này là rất lớn (p < 0.0001). 2. Tỷ lệ đồng nhiễm cả virus viêm gan B, C ở bệnh nhân HIV (+) là 14,9%. 3. Tiêm chích ma túy là nguy cơ hàng đầu của đồng nhiễm HIV và HCV. Tỷ lệ nhiễm HCV ở bệnh nhân HIV do tiêm chích chiếm 88,5%; ở bệnh nhân vừa tiêm chích vừa quan hệ tình dục là 83,67% và ở nhóm nhiễm HIV do quan hệ tình dục tỷ lệ nhiễm HCV là 47,44%.

Xem chi tiết

Nghiên cứu kháng nguyên nhóm máu ngoài hệ abo của cán bộ viện huyết học truyền máu trung ương

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Anh Trí, Bùi Thị Mai An

Xây dựng panel hồng cầu và ngân hàng người hiến máu (NHM) có nhóm máu hiếm, tại Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương (VHHTMTU) là rất cần thiết. Mục tiêu: nghiên cứu tần số xuất hiện kháng nguyên của các hệ nhóm máu Rh, Kell, Kidd, Duffy, MNSs, Lewwis, P, Mia và Lutheran ở cán bộ viện Huyết học - Truyền máu Trung ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: xác định kháng nguyên của các hệ nhóm máu Rh, Kell, Kidd, Duffy, MNSs, Lewwis, P, Mia và Lutheran bằng kỹ thuật gelcard và ống nghiệm cho 140 cán bộ khỏe mạnh đang làm việc tại viện HHTMTW. Kết quả và kết luận: tần suất xuất hiện các kháng nguyên nhóm máu hệ Rh (D: 99,3%; e: 97,9%; C: 95,7%; c: 41,3% và E là 41,4%;); Kell (100% và K :O %;); Kidd (Jka : 77,1% và Jkb : 73,6%); Duffy Fya : 97,9%, Fyb : 10,7%) ; MNSs (S: 3,6% ; s : 100%, M : 82,1% ; N : 67,1%); Lewis (lea: 30%, Leb: 87%), P1(18,6%); Mia (10%), Lutheran Lua: 0% và Lub: 100%) của cán bộ viện HHTM TU. Nghiên cứu đã góp phần xây dựng panel hồng cầu và ngân hàng NHM có nhóm máu hiếm.

Xem chi tiết

Bước đầu nghiên cứu tác dụng của nấm linh chi việt nam (ganoderma lucidum) qua một số chỉ số lipid máu ở chuột cống

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh, Đào Văn Phan, Phạm Thị Vân Anh

NLC có nhiều công dụng như tăng cường trí nhớ, chữa viêm gan, làm tăng tuổi thọ... chúng tôi giả thiết rằng NLC có thể có khả năng làm hạ lipid máu. Mục tiêu: Đánh giá tác dụng của cao lỏng nấm linh chi Việt Nam qua một số chỉ số lipid máu chuột cống. Đối tượng và phương pháp: Chuột cống được uống cholesterol liên tục trong 8 tuần để gây tăng lipid máu. Từ tuần thứ 5, chuột cống được uống đồng thời cholesterol và cao lỏng nấm linh chi với liều 2g/kg, 4g/kg liên tục trong 4 tuần. Kết quả: Cao lỏng nấm linh chi có tác dụng làm giảm các chỉ số cholesterol toàn phần, triglycerid và LDL - C, đồng thời làm tăng HDL - C huyết tương chuột cống trắng được gây tăng lipid máu thực nghiệm. Tác dụng của linh chi ở 2 liều là tương đương nhau và tương đương với Lipid (gemfibrozil) liều 140mg/kg. Kết luận: Cao lỏng nấm linh chi liều 2g/kg và 4g/kg cân nặng có tác dụng hạ lipid máu ở chuột cống thực nghiệm.

Xem chi tiết

Nghiên cứu một đặc điểm phân bố và yếu tố số liên quan đến kiểu gen virus viêm gan c (hcv) ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Trương Thái Phương, Vũ Thị Tường Vân

Nghiên cứu được tiến hành nhằm mô tả kiểu gen (genotype) HCV ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại bệnh viện Bạch Mai. Tìm hiểu mối liên quan giữa một số yếu tố dịch tễ với sự phân bố kiểu gen HCV trên nhóm đối tượng này. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu ngang trên 64 bệnh nhân chạy thận nhân tạo (TNT) tại bệnh viện Bạch Mai trong thời gian 2 năm (2006 – 2008), có tải lượng virus viêm gan C (HCV) 102 ÷ 106copies/ml. Xác định kiểu gen HCV, một số đặc điểm phân bố kiểu gen HCV và thời gian chạy thận nhân tạo. Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: kỹ thuật Real - time PCR xác định kiểu gen HCV. Kết quả: nhiễm HCV ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo có các kiểu gen được xác định như sau kiểu gen 1 (43,75%), kiểu gen 6 (50%), đồng nhiễm kiểu gen 1 và 2 (1,56%) và đồng nhiễm kiểu gen 6 và 2 (4,69%). Kết luận: bệnh nhân chạy thận nhân tạo tại bệnh viện Bạch Mai nhiễm virus viêm gan C có kiểu gen 1 và 6 của virus viêm gan C chiếm ưu thế; Kiểu gen 2 chỉ gặp trong nhiễm phối hợp với một kiểu gen khác và chiếm một tỷ lệ nhỏ. Thời gian lọc máu càng dài và truyền máu có thể là nguy cơ nhiễm phối hợp nhiều kiểu gen HCV.

Xem chi tiết

TÌM HIỂU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC VÀ KẾT QUẢ ALPHA - FOETOPROTEIN TRONG CHẨN ĐOÁN UNG THƯ GAN TẠI KHOA TIÊU HOÁ BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Vân Hồng, Nguyễn Văn Thanh

Ung thư gan là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở nước ta và trên thế giới. Tỷ lệ mắc ung thư gan có xu hướng gia tăng. Tìm hiểu đặc điểm hình thái khối u gan có thể giúp xác định bản chất ác tính của khối u gan với độ chính xác cao. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu hồi cứu được thực hiện ở 153 bệnh nhân được xác định chẩn đoán ung thư gan. Kết quả và kết luận: kết quả cho thấy Khối u gan có thể gặp ở mọi vị trí trong gan, hay gặp trên gan phải (SA (siêu âm) là 71,24%, CLVT (chụp cắt lớp vi tính) là 69,05%). Số lượng của khối u gan: loại 1 u chiếm đa số (60,78% trên SA và 61,12% trên CLVT), trên 2 u là 25,49% và 27,09%. Hầu hết ung thư gan phát hiện muộn với kích thước khối u gan > 5 cm 69,93% trên SA và 69,04% trên CLVT. Huyết khối tĩnh mạch cửa tìm được trên siêu âm và chụp cắt lớp vi tính cũng như siêu âm doppler thấp ở bệnh nhân ung thư gan. Tuy nhiên tìm thấy mối liên quan giữa kích thước khối u và huyết khối tĩnh mạch cửa. AFP (alpha fetoprotein) ³ 500 ng/ml là 53,06%. Không tìm thấy mối liên quan giữa kết quả AFP với số lượng và kích thước khối u gan.

Xem chi tiết