Tình hình sử dụng phụ gia hàn the và phẩm mầu trong một số thực phẩm chế biến sẵn và kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người nội trợ tại quận Đống Đa Hà Nội năm 2003

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Đỗ Thị Hoà, Lương Thuý Hằng, Nguyễn Thị Nguyệt, Trần Xuân Bách

Tiến hành một nghiên cứu ngang về thực trạng sử dụng hàn the và phẩm mầu không cho phép trên 342 mẫu thực phẩm và phỏng vấn 250 người nội trợ kiến thức thái độ thực hành về VSATTP, tại quận Đống Đa Hà Nội, trong thời gian 6 tháng cuối 2003. Chúng tôi đã rút ra các kết luận sau: 1. Về thực trạng sử dụng hàn the: 39,6% số mẫu xét nghiệm có sử dụng hàn the, trong đó giò lụa có tỷ lệ cao nhất và chả nạc là thấp nhất, bánh giò và bánh cuốn vẫn là thực phẩm cần quan tâm. 2. Về thực trạng sử dụng phẩm mầu: có 20,3% số mẫu dùng phẩm mầu không cho phép. Tuy nhiên, tập trung vào hạt dưa đỏ, ô mai đỏ và các thực phẩm không nhãn mác bán ở vỉa hè các cổng trường tiểu học và trung học. 3. Kiến thức thái độ thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người nội trợ đã được nâng cao hơn trước. 4. 100% số người cần biết thêm kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm, tập trung ở 3 nội dung như cách chọn thực phẩm sao cho an toàn, các triệu chứng khi bị ngộ độc và cách xử trí khi bị ngộ độc thực phẩm.

Xem chi tiết

Hành vi và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm hiv trong nhóm nghiện chích ma tuý tỉnh thái nguyên năm 2008

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Thanh Long

Nghiên cứu hành vi và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma tuý (NCMT) tạitỉnh Thái Nguyên để từ đó có các giải pháp can thiệp phù hợp. Mục tiêu: đánh giá thực trạng và hành vinguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của nhóm nghiện chích ma tuý tại tỉnh Thái Nguyên năm 2008. Đối tượng vaphương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang trên 450 đối tượng NCMT. Kết quả: hầu hết người NCMT sử dụngHêrôin (98,89%). Tỷ lệ không sử dụng bao cao su (BCS) trong tất cả các lần quan hệ tình dục với vợ hoặcchồng là 60,6%, với gái mại dâm (GMD) 29,17%. Có 7,8% có sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT) trong cáclần tiêm chích. Hầu hết người NCMT đều đã nghe về HIV/AIDS; 39,6% không tự cho mình có nguy cơ lâynhiễm HIV; 55,7% người NCMT đã từng xét nghiệm HIV; 84,7% đã từng nhận được BKT trong 6 tháng trướcđiều tra. Kết luận: người NCMT ở Thái Nguyên có thời gian tiêm chích dài, đa phần là Heroin, hành vi nguycơ lây nhiễm HIV cao từ đó cho thấy cần đẩy mạnh các hoạt động can thiệp cho nhóm này.

Xem chi tiết

Một trong những nguyên nhân gây loãng xương: bệnh Đa u tuỷ xương (bệnh Kahler)

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Lan

Nhiều trường hợp X quang chỉ biểu hiện như hình ảnh của một loãng xương tại cột sống, nếu không lưu ý có thể chẩn đoán nhầm là loãng xương thông thường. Một trong những nguyên nhân gây loãng xương thứ phát là bệnh đa u tuỷ xương. Đây là một bệnh ác tính, các tổn thương xương thường gặp và biểu hiện sớm. Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng tổn thương xương trên 124 bệnh nhân từ năm 1998 đến năm 2002 tại Bệnh viện Bạch Mai cho thấy: Đau xương ở giai đoạn khởi phát: 76,6% (tỉ lệ cao nhất là đau cột sống lưng: 53,2%). Giai đoạn toàn phát: 87,9% (tỉ lệ đau cột sống thắt lưng cũng cao nhất: 67,7%). Hình ảnh X quang thường quy: mất chất khoáng lan toả nhiều xương (đặc biệt ở xương sườn); tiêu khuyết xương lan toả, chủ yếu là hình hốc. Tổn thương lan toả gặp 100% ở xương sọ, xương sườn, xương bả, xương đòn. Chỉ gặp 8 trường hợp tổn thương khu trú. Tỉ lệ tổn thương XQ tại xương sườn cao nhất: 75,5% khuyết xương và 94,1% tổn thương hình hốc (punched - out). Các triệu chứng khác biệt với loãng xương nguyên phát: đau xương (đặc biệt là đau CSTL và xương sườn); XQ có hình ảnh mất chất khoáng, tiêu khuyết xương hình hốc lan toả (thường ở nhiều xương, đặc biệt ở xương sườn, cột sống, xương sọ); tốc độ máu lắng trên 60 mm giờ đầu.

Xem chi tiết

Nguyên nhân và một số yếu tố ảnh hưởng đến tử vong mẹ tại 7 tỉnh ở Việt Nam

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Thị Phương Mai

Nghiên cứu tử vong mẹ tại 7 tỉnh thuộc 7 vùng sinh thái thời gian từ 01/1/2000 đến 31/12/2002 cho thấy tỷ suất tử vong mẹ là 165/100.000. Nguy cơ tử vong mẹ là 1/344, nguyên nhân gây tử vong mẹ trực tiếp chiếm 76% trong đó chảy máu là 41%, sản giật là 21,3%, nhiễm khuẩn 16,6%, nạo phá thai 11,5%, vỡ tử cung 4,7%, chửa ngoài tử cung là 4,8%, tử vong do nguyên nhân gián tiếp là 23%. Ngoài ra một số nguyên nhân khác như chuyển tuyến chậm, chẩn đoán chậm, xử trí chậm cũng là những yếu tố quan trọng.

Xem chi tiết

Tình trạng hở van hai lá sau nong bằng bóng inoue trên bệnh nhân hẹp van hai lá khít

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Dương Ngọc Long, Trương Thanh Hương

Mục tiêu: tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình trạng hở van hai lá (HoHL) ngay và sau 3 tháng nong van hai lá (NVHL) bằng bóng Inoue để điều trị hẹp hai lá (HHL) khít. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 43 bệnh nhân (BN) HHL khít được NVHL bằng bóng Inoue tại viện Tim mạch - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 01/2007 đến 10/2007, thời gian theo dõi trung bình sau NVHL là ba tháng. Kết quả và kết luận: độ dày lá trước VHL, độ dày lá sau VHL và độ vôi hoá mép van theo thang điểm Padial có ảnh hưởng đến biến chứng HoHL nặng sau nong. Điểm Padial ≥ 10 rất có ý nghĩa dự báo HoHL nặng sau NVHL. Trong thang điểm Wilkins chỉ có mức độ vôi hoá van là ảnh hưởng đến biến chứng HoHL sau nong van p < 0,05. Hở van động mạch chủ (HoC) và/hoặc HoHL từ nhẹ - vừa kèm theo trên bệnh nhân có điểm Wilkins < 8 và điểm Padial < 10 không có ảnh hưởng đến HoHL nặng sau NVHL

Xem chi tiết

Nhận xét về một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hồi phục thể tích tuần hoàn trong sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: ỉTần Thị Mai Chinh, Phạm Văn Thắng

Mục tiêu: nhận xét về một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hồi phục thể tích tuần hoàn trong sốc nhiễm khuẩn (snk). đối tượng và phương pháp: 49 bệnh nhân snk trong đó sốc lạnh là 31/49 bn (63%) và suy đa tạng 18/49 bn (37%) tại khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện nhi tw (từ 8/2003 - 8/2005). lượng dịch trung bình giờ đầu là 45 ± 16 ml/kg/giờ, giờ tiếp theo là 16 ± 8ml/kg/giờ và trong 24 giờ là 22±17 ml/kg. thành phần dịch giờ đầu là dung dịch điện giải, những giờ sau: dịch đg, dd keo, máu và chế phẩm máu. kết quả và kết luận: một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả bù dịch là: mức độ sốc và thời gian chẩn đoán sốc ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả bù dịch; nhóm bệnh nhân sốc lạnh và nhóm được chẩn đoán sớm có kết quả điều trị tốt hơn. mức độ giảm protein máu, tình trạng nhiễm toan và mức độ giảm cvp chưa ảnh hưởng có ý nghĩa.

Xem chi tiết

Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động giải trí,luyện tập thể lực và học vấn đối với sa sút trí tuệ ở người cao tuổi

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Phạm Thắng

Mục tiêu: nghiên cứu vai trò của sự tham gia các hoạt động xã hội, vui chơi giải trí đói với hội chứngsa sút trí tuệ (SSTT) ở người cao tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang môtả. Nhóm bệnh: 156 bệnh nhân được chẩn đoán xác định bị sa sút trí tuệ (do bệnh Alzheimer hoặc donguyên nhân mạch máu) theo tiêu chuẩn DSM - IV - TR tại Bệnh viện Lão Khoa Trung ương từ 7/2008đến 1/2010, nhóm chứng: 200 người bình thường, cùng tuổi, giới, nghề nghiệp, sống tại xã Thanh Xuân(Sóc sơn) và Phường Phương mai (Đống Đa), Hà Nội. Tất cả các đối tượng nghiên cứu được khám lâmsàng, phóng vấn theo bộ câu hỏi nghiên cứu, làm các trắc nghiệm thần kinh tâm lý và xét nghiệm cầnthiết. Kết quả: có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm về loại hình, mức độ, tần xuất củamột số hoạt động thể lực như đi bộ, chạy bộ, làm việc nhà, tập aerobic cũng như một số hoạt độngnhận thức: đọc sách báo, viết sách, chơi cờ. Kết luận: nghiên cứu đã cho thấy sự khác biệt về mức độtham gia hoạt động xã hội, vui chơi giải trí của người bị SSTT so với người bình thường. Cần tiến hànhnghiên cứu dọc để xác định các yếu tố trong những hoạt động trên có tác động tích cực đối với SSTTnhằm tạo thuận lợi cho các biện pháp can thiệp trong tương lai.

Xem chi tiết

Giá trị của dấu ấn acid homovanillic và acid vanillylmandelic nước tiểu trong chẩn đoán u nguyên bào thần kinh

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Thị Chi Mai, Nguyễn Thu Hiền, Phùng Tuyết Lan

Định lượng HVA và VMA nước tiểu giúp chẩn đoán u nguyên bào thần kinh. Nghiên cứu nhằm đánh giá giá trị của HVA và VMA trong chẩn đoán u nguyên bào thần kinh. Giá trị này được đánh giá bằng độ nhạy (Se), độ đặc hiệu (Sp) và diện tích dưới đường cong ROC (Area under curve - AUC). Kết quả cho thấy HVA và VMA niệu có độ nhạy và độ dặc hiệu cao trong chẩn đoán u nguyên bào thần kinh. Với ngưỡng HVA là 19,2 µmol/mmol creatinin, Se = 86,0%, Sp = 96,3%, AUC = 0,944; ngưỡng VMA là 9,9 µmol/mmol creatinin, Se = 82,0%, Sp = 93,8%, AUC = 0,886. Chung cho các nhóm tuổi HVA có độ nhạy và độ đặc hiệu lớn hơn VMA. Nhóm từ 1 đến dưới 5 tuổi HVA có giá trị chẩn đoán tốt hơn VMA, nhóm từ 5 đến dưới 10 tuổi thì ngược lại.

Xem chi tiết