Sinh thiết phổi với kim tru - cut xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán đám mờ ở phổi trên 265 bệnh nhân

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Ngô Quý Châu và cộng sự

Sinh thiết xuyên thành ngực dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính là một thăm dò xâm nhập giúp chẩn đoán căn nguyên các tổn thương ở phổi. đây là một kỹ thuật mới được áp dụng ở việt nam. mục tiêu: (1) đánh giá hiệu quả của sinh thiết xuyên thành ngực bằng kim tru- cut dưới hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính. (2) nhận xét những tai biến của kỹ thuật. đối tượng nghiên cứu: 265 bn có tổn thương hình đám mờ thấy trên phim x-quang phổi chuẩn hoặc phim cắt lớp vi tính phổi tại khoa hô hấp - bệnh viện bạch mai từ 01/01/2003 đến 31/12/2005. phương pháp nghiên cứu: cắt ngang mô tả. kết quả: chẩn đoán dương tính ở 75,5% bệnh nhân, trong đó ung thư: 63,0%, lao: 12,1%, và u nấm: 0,4%. về týp mô bệnh học: ung thư biểu mô týp biểu mô tuyến (42,5%), ung thư biểu mô tế bào vảy (13,8%), ung thư biểu mô tế bào nhỏ (13,2%), ung thư biểu mô tế bào thần kinh nội tiết (1,8%), ung thư biểu mô tế bào lớn (1,2%). tai biến kỹ thuật là 10,6%, trong đó tràn khí màng phổi: 6,8% và ho máu: 3,8%.

Xem chi tiết

Gía trị của sinh thiết mÀng phổi bằng kim Castelain trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi ít tại Trung tâm Hô hấp bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Ngô Quý Châu , Nguyễn Thị Thanh Hà

Sinh thiết màng phổi (STMP) bằng kim Castelain có nhiều ưu điểm trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi (TDMP) nhưng khó thực hiện nếu tràn dịch ít. Nghiên cứu tiến hành nhằm nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả STMP kín bằng kim Castelain trên bệnh nhân TDMP dịch ít. Kết quả cho thấy triệu chứng hay gặp: đau ngực 84,6%; ho 78,1%; khó thở 65,6%; sốt 43,8%; hội chứng ba giảm 78,1%. Tỷ lệ lấy được bệnh phẩm thành công 100% sau khi đã bơm thêm NaCl 0,9% vào khoang MP. Xác định được nguyên nhân TDMP nhờ STMP bằng kim Castelain là 34,4%. Tỷ lệ tai biến nhẹ do sinh thiết là 15,6%. Từ các kết quả trên có thể kết luận đối với TDMP số lượng ít, STMP bằng kim Castelain có thể thực hiện được nếu bơm thêm NaCl 0,9%. Kỹ thuật và có giá trị chẩn đoán cao và an toàn ngay cả khi TDMP số lượng ít.

Xem chi tiết

Dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 0-36 tháng tuổi tại các huyện đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Trần Thị Tuyết Mai, Lê Thị Hợp, Vũ Hoàng Lan

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 3 - 7 năm 2011, trên 810 bà mẹ và trẻ em từ 0 - 36 tháng tuổi tại 3 xã thuộc 3 huyện thị đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa nhằm xác định yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng (SDD). Kết quả cho thấy liên quan với cả 3 thể SDD nhẹ cân, thấp còi, gày còm là thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ (NDTN) của bà mẹ, cân nặng sơ sinh thấp; liên quan với hai thể nhẹ cân và thấp còi là trẻ ăn bổ sung sớm; liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi: Kiến thức NDTN kém, chi tiêu cho ăn uống thấp, có trên 2 con, trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo.

Xem chi tiết

Vai trò của siêu âm và chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân, Phạm Thu Hà, Đặng Bích Ngọc

Nghiên cứu được thực hiện nhằm bước đầu đánh giá vai trò của chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm trong chẩn đoán ung thư tuyến giáp. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu về đặc điểm lâm sàng, siêu âm, kết quả chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn siêu âm, kết quả mô bệnh học (đối với trường hợp kết quả tế bào học ác tính) của 150 bệnh nhân đến khám ở Phòng khám Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai từ ngày 24/11/2011 đến ngày 29/02/2012. Kết quả cho thấy có 150 bệnh nhân tuổi trung bình là 47,6 ± 12,061, nam/nữ = 6/1, lí do đến khám không có triệu chứng chiếm tỉ lệ nhiều nhất 51,3%. Có 11 bệnh nhân kết quả tế bào học và mô bệnh học là ung thư tuyến giáp. Kết quả siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp: Nhân giảm âm 80% lành tính, 10% ác tính, ranh giới nhân không rõ 78% lành tính, 12% ác tính, vi vôi hóa trong nhân 44% lành tính, 50% ác tính, phối hợp các đặc điểm trên siêu âm và kết quả giải phẫu bệnh, có 1 dấu hiệu nhân giảm âm 10% ác tính, có 2 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ 25% là ác tính, có 3 dấu hiệu nhân giảm âm, ranh giới không rõ, vi vôi hóa 100% ác tính. Các dấu hiệu trên siêu âm dự đoán ung thư tuyến giáp là nhân giảm âm, ranh giới không rõ và vì vôi hóa trong nhân.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số trường hợp nhiễm nấm phổi (aspergillus fumigatus) điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hồng Thái

Nấm phổi do Aspergillus không phải là bệnh hiếm gặp, nhưng nó thường bị ẩn trong các bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Ngày nay, với tình trạng gia tăng các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ bắt gặp nấm phổi ngày một tăng. Mặt khác, với tiến bộ vượt bậc của các kỹ thuật chẩn đoán, nấm phổi ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn. Mục tiêu: (1). Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của nấm phổi. (2). Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị những trường hợp bị nấm phổi. Đối tượng nghiên cứu: 15 trường hợp nghi nấm phổi được khám lâm sàng và thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán cũng như kết quả phẫu thuật, xét nghiệm sau mổ, xác định có nấm aspergillus fumigatus ở phổi từ 1/2007 đến 1/2008. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả. Kết quả. Nam: 8 TH, nữ 7 TH.Ho máu: 9 TH (60%).Chẩn đoán chắc chắn có nấm 12 TH (80%) (sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực thấy nấm ở 5 TH (34%), 7 TH phẫu thụât cắt phổi (47%). Có 8 TH (53%) điều trị nội khoa vì không còn chỉ định mổ. Kết luận: nấm phổi không phải là 1 bệnh hiếm gặp, nó thường xảy rs trên cơ địa suy giảm miễn dịch hoặc có tổn thương lao cũ với triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho máu.Về điều trị thì phẫu thuật là phương pháp hiệu quả đối với các TH u nấm, song với các TH suy giảm miễn dịch thì điều trị nội khoa là phương pháp hữu hiệu hơn

Xem chi tiết

Hành vi tình dục nguy cơ và rào cản ở thanh niên thành phố Thanh Hóa năm 2011 trong phòng chống HIV/AIDS

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Đào Thị Minh An, Lê Thị Hường

Nghiên cứu nhằm mô tả hành vi tình dục nguy cơ; những khó khăn trong thực hành sử dụng bao su; thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDs ở nhóm thanh niên thành phố Thanh Hoá. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh niên thành phố Thanh Hoá có quan hệ tình dục lần đầu tiên khá sớm tập trung ở độ tuổi 18 - 19 (46%) và 20 - 22 (27%); đối tượng bàn tình gồm vợ/chồng/người yêu, đối tượng mại dâm (8,1% ) và bạn tình bất chợt (3,8 %); 37,5% và 11,8% không sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với bạn tình bất chợt hoặc đối tượng bán dâm; nhận thức về nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây truyền qua đường tình dục chưa cao; thực hành sử dụng bao cao su chưa tốt; rào cản trong thực hành sử dụng bao cao su gồm khó khăn không kiểm soát được sử dụng bao cao su sau uống rượu (37,2%), bạn tình có nghi ngờ khi sử dụng bao cao su (21,9%), không thoải mái khi sử dụng bao cao su (22,4%), khó khăn khi nói chuyện với bạn tình về sửdụng bao cao su (18,6%). Thanh niên còn kỳ thị nhiều đối với người nhiễm HIV/AIDs.

Xem chi tiết